Tác giả : Trần Lực Hàng | Nguồn bài viết

Giữa tháng 10 đến đầu tháng 11 năm 1945, Trần Dĩ Văn cùng Đại đội 5 hành quân từ Đôn Hóa đến Mẫu Đơn Giang. Tại Mẫu Đơn Giang, những người lính Liên Xô cầm súng liên tục hô: "Tokyo damoi! Tokyo damoi!", nghĩa là "Sắp được về Tokyo rồi!". Nghe đến hai chữ "Tokyo", nhiều người tưởng rằng đó là chuyến tàu đưa họ hồi hương. Thế nhưng, trên thực tế, đó lại là chuyến tàu chở tù binh, với điểm đến là Siberia.

Ban đầu, Dĩ Văn và các đồng đội thực sự tin rằng đoàn tàu sẽ đi đến Vladivostok hoặc Nakhodka, rồi từ đó lên tàu thủy trở về Nhật Bản. Nhưng khi đoàn tàu không ngừng tiến về phía trước, có người quan sát hướng mặt trời và phát hiện nó đang chạy theo hướng hoàn toàn ngược lại. Bầu không khí trong toa tàu dần trở nên nặng nề. Đến khi mọi người nghe thấy tiếng báo "Đã qua Chita", sự bất an càng tăng lên, bởi điều đó chứng tỏ họ đang ngày càng rời xa con đường trở về quê hương. Sau mười một ngày di chuyển, đoàn tàu cuối cùng dừng lại tại Taishet, nằm ở phía tây bắc thành phố Irkutsk.

image

Bưu thiếp Trần Dĩ Văn gửi từ Mãn Châu về Nghi Lan. Người nhận là Cảnh Sơn Dật Nhân (Trần Thổ Kim), cha của Trần Dĩ Văn. Tấm bưu thiếp được gửi đến Nghi Lan vào ngày 10/9/1946. Đối với gia đình họ Trần, lúc ấy họ vẫn chưa có bất kỳ tin tức nào về Dĩ Văn, sống chết vẫn chưa rõ, và đây là bức thư duy nhất ông gửi về trong thời chiến. (Nguồn: Nhà xuất bản Tiền Vệ).

Đến Taishet

Taishet nằm cách phía tây bắc hồ Baikal khoảng 600 km. Các trại giam trong khu vực Taishet từng giam giữ từ bốn đến năm vạn tù binh chiến tranh Nhật Bản. Địa danh này cũng từng xuất hiện trong văn học Nhật Bản: trong tiểu thuyết Vùng đất cằn cỗi (Fumō Chitai) của Yamazaki Toyoko, nhân vật chính Iki Tadashi xuống tàu tại một nhà ga nằm cách Taishet khoảng 60 km về phía bắc.

Sau khi xuống tàu, Đại đội 5 bắt đầu cuộc hành quân giữa trời tuyết. So với chặng đường từ Đôn Hóa đến Mẫu Đơn Giang, lần này Dĩ Văn cảm nhận cái lạnh rõ rệt hơn nhiều. Theo tư liệu lịch sử, ngày 4/11/1945, nhiệt độ tại Taishet giảm xuống âm 8°C. Vài ngày sau thời tiết có ấm lên đôi chút, nhưng đến ngày 10/11, nhiệt độ lại tụt xuống âm 11°C. Cuối tháng 11, nơi đây còn ghi nhận mức nhiệt thấp tới âm 24°C.

Trong lúc nhiệt độ ngày càng hạ thấp, Đại đội 5 vẫn phải tiếp tục hành quân trong tuyết. Những người bị thương phải vịn vai đồng đội để bước đi từng bước chậm chạp. Do thiếu lương thực nghiêm trọng, họ chỉ còn cách đổi chác với cư dân ven đường để kiếm thức ăn. Sau ba ngày hành quân giữa băng tuyết, cả đơn vị đến một trại giam nằm trong rừng. Một tuần sau, họ lại chuyển đến một trại khác cách đó sáu kilômét. Đây chính là nơi Đại đội 5 sẽ cư trú lâu dài, được đánh dấu trên bản đồ với ký hiệu 120 K.

Trại giam 120 K trước đó dùng để giam giữ tù binh Đức. Sau khi nhóm tù binh Đức rời đi, Đại đội 5 được đưa vào đây. Bên ngoài trại là hàng rào cao, phía trong còn có thêm lớp dây thép gai và các chòi canh. Chỉ cần có người đến gần, lính gác sẽ lập tức nổ súng. Trong trại có một giếng nước sâu, nhưng mặt giếng luôn đóng băng, muốn lấy nước phải đục vỡ lớp băng trước.

Đại đội trưởng của Đại đội 5 là Kurauchi Jirō, mang quân hàm Thiếu úy. Để nắm rõ tình hình của từng người, tối nào ông cũng gọi các đội viên đến, ghi lại họ tên, địa chỉ, hỏi thăm hoàn cảnh gia đình và xem trong lòng họ còn điều gì canh cánh hay không, rồi tổng hợp thành một danh sách. Kurauchi còn nói với toàn thể đơn vị:

"Xin mọi người đừng nản chí. Mục tiêu của chúng ta là tất cả đều khỏe mạnh trở về quê hương."

Lời động viên ấy như một liều thuốc tinh thần, tiếp thêm sức mạnh cho toàn thể Đại đội 5.

Kurauchi luôn giữ thái độ điềm tĩnh và cứng rắn khi đối mặt với những mệnh lệnh vô lý của lính Liên Xô. Ngay cả khi họ mang theo súng đạn thật và có thể nổ súng bất cứ lúc nào, ông vẫn kiên quyết giữ vững lập trường. Thực ra, không phải sĩ quan nào cũng quan tâm đến thuộc cấp như Kurauchi. Ở nhiều trại giam khác, cũng có những sĩ quan lợi dụng cấp bậc để sai khiến, quát nạt đồng đội cùng trại, thậm chí còn xảy ra xung đột. Vì các tướng lĩnh không phải lao động, một số người vẫn giữ tư tưởng "dù đã bại trận, chúng ta vẫn là quân nhân của Đế quốc", nên thường xuyên quở trách, thậm chí đánh đập những binh sĩ cấp thấp hơn. Những lúc như vậy, các sĩ quan Liên Xô trong trại thường đứng ra hòa giải. Tuy nhiên, cũng từng có trường hợp một sĩ quan Nhật Bản ở trại khác bị chuyển sang trại giam khác vì những vụ việc tương tự.

Không chỉ vậy, trong quãng thời gian bị giam giữ, còn vô số chuyện nhỏ khác vẫn luôn khiến Dĩ Văn và các đồng đội chưa thể trở về quê hương phải đau đầu.

Những con rệp giường đỏ rực, ngứa ngáy không chịu nổi

Ngoài vấn đề ánh sáng và nhiệt độ, các đội viên còn phải đối mặt với rệp giường trong phòng ngủ. Rệp giường, còn gọi là rệp hôi ôn đới, thích ẩn nấp trong các khe hở của giường, cột nhà và tường. Đối với loài côn trùng ưa hơi ấm này, cơ thể con người chính là môi trường lý tưởng. Chúng đặc biệt thích tụ tập ở những vùng da mềm như cổ, tay và chân. Sau khi bị cắn, da sẽ bắt đầu ngứa; càng ngứa lại càng gãi, càng gãi thì càng đỏ. Hầu như trại giam nào của tù binh Nhật tại Siberia cũng đầy rệp giường. Trên mặt mỗi tù binh đều lấm tấm những nốt đỏ. Ban đêm, chỉ cần mở mắt là có thể nhìn thấy từng đàn rệp tụ lại thành từng mảng tròn để hút máu người. Mỗi khi bị quấy động, chúng lập tức tản ra như những con nhện nhỏ, chui trở lại các khe giường và khe tường. Đã có đồng đội thử mang quần áo ra ngoài trời để rệp chết cóng, nhưng hoàn toàn không có tác dụng.

Nếu nhìn từ một góc độ khác, việc rệp giường vẫn bâu kín cơ thể bạn cũng có nghĩa là bạn vẫn còn sống. Dĩ Văn từng nghe kể rằng có người nhìn thấy đàn rệp đột nhiên bò ra khỏi người đồng đội nằm giường bên cạnh. Đến lúc ấy mọi người mới biết người đó đã qua đời.

Trộm cắp để chống chọi với cơn đói

Khẩu phần ăn trong trại giam đều không đủ, dù là đối với lính Liên Xô hay tù binh Nhật Bản. Vì vậy, rất nhiều người tìm mọi cách để kiếm thêm thức ăn, từ trao đổi, đến trộm cắp hay cướp giật, miễn sao có cái bỏ bụng. Tù binh Nhật cũng phụ trách nấu ăn cho lính Liên Xô. Tuy nhiên, lương thực đều được phân phối theo định mức. Có lần, nguồn tiếp tế chậm trễ, một sĩ quan Liên Xô đã đến bàn bạc với Đại đội trưởng Kurauchi, hy vọng khi các đội viên vào kho làm việc, họ có thể tiện tay lấy trộm vài củ khoai tây mang ra.

Kho của nông trường Kurikong nằm dưới tầng hầm và luôn có người quản lý. Người quản lý tên là "Panego" (phiên âm), vóc người thấp đậm, đầu óc rất tinh ranh. Ngày nào ông ta cũng đi kiểm tra kho. Điều đáng kinh ngạc là mỗi khi đội viên bước ra khỏi kho, chỉ cần nhìn nét mặt là Panego biết ngay người đó có giấu khoai tây hay không. Dĩ Văn và các đồng đội dù giấu khoai ở đâu trên người cũng thường bị phát hiện. Bị bắt thì không bị trừng phạt, chỉ bị Panego mắng một trận, rồi phải trả lại toàn bộ nông sản.

Có một lần, sau khi bàn bạc với lính Liên Xô, Đại đội trưởng Kurauchi quyết định cử Dĩ Văn vào kho. Dĩ Văn cầm chiếc bao mà lính Liên Xô đưa rồi đi vào, trong khi người lính ấy đứng ngoài cửa cảnh giới. Các đội viên nhanh chóng chất đầy khoai tây vào bao. Sau khi Dĩ Văn đưa chiếc bao đầy khoai cho người lính Liên Xô, anh được bảo lập tức nấp sang một bên vì Panego đã quay trở lại. Nhìn thấy dấu chân và vết kéo của chiếc bao trên nền đất, Panego tức giận chửi ầm lên. Nấp ở một góc, Dĩ Văn cảm thấy vô cùng khó tin, bởi điều này hoàn toàn trái ngược với văn hóa quân đội Nhật. Trong quân đội Nhật, nếu bị cấp trên quở trách thì dù đúng hay sai, ít nhất cũng phải tỏ vẻ nhận lỗi. Thế nhưng những người lính Liên Xô trước mắt thì người hút thuốc, người uống rượu, người trò chuyện, hoàn toàn chẳng coi Panego ra gì, cứ mặc kệ ông ta muốn mắng thế nào thì mắng. Chỉ đến khi Panego bỏ đi, Dĩ Văn mới trở về phòng ngủ.

Khẩu phần ăn được phân chia theo cấp bậc

Khẩu phần trong trại giam gồm có bánh mì đen (lương thực chính của người Nga), cháo và canh rau (chỉ lác đác vài cọng bắp cải). Chế độ cấp phát lương thực cho tù binh được chia thành bốn cấp: sĩ quan, hạ sĩ quan và binh lính, người bệnh và người suy dinh dưỡng. Trong đó, nhóm binh lính đông nhất vì phải lao động nặng nên được cấp nhiều bánh mì đen, ngũ cốc, cá, dầu thực vật và rau dại hơn sĩ quan. Đổi lại, sĩ quan được nhận nhiều đường, thịt, tương miso, thuốc lá hơn, đồng thời còn có bơ và xà phòng – những thứ binh lính không được cấp.

Dĩ Văn cảm thấy lượng thức ăn ấy dù có gộp cả ba bữa lại ăn một lần cũng không thể no, giống như uống nước ngọt vậy, vừa vào miệng đã hết. Cháo và canh rau thì còn dễ chia, nhưng bánh mì đen mới thật sự là vấn đề. Ở một số trại giam, để bảo đảm công bằng, mỗi lần chia bánh mì, cả phòng ngủ đều chăm chú nhìn vào ổ bánh. Nếu chỉ nhìn từ xa, khung cảnh ấy chẳng khác nào đang chia những miếng phô mai hay thịt nguội hảo hạng, nhưng thực chất chỉ là đang chia bánh mì đen. Người cắt bánh cũng phải vô cùng cẩn thận; chỉ cần các phần không đều nhau một chút là rất dễ xảy ra cãi vã.

Thậm chí có người còn tự chế những chiếc cân đơn giản để đo. Các tù binh dùng thước đo chiều dài, chiều rộng và chiều cao của ổ bánh, rồi căn cứ vào số người để cắt thành từng lát mỏng bằng nhau. Vì vậy, mỗi khi bước vào tầng hầm và nhìn thấy những đống khoai tây chất cao ngập mắt, rất khó để họ không nảy sinh ý định lén mang ra ngoài, dù chỉ một hai củ cũng được. Có lần, trên đường trở về trại, Dĩ Văn nhìn thấy một "củ khoai tây" nằm dưới đất nên nhặt bỏ vào túi áo chống rét. Về đến phòng, anh bỏ nó vào nồi nấu, kết quả cả nồi biến thành thứ nước vàng bốc mùi hôi. Lúc ấy anh mới phát hiện thứ mình nhặt được thực ra là phân ngựa đã đông cứng. Vì bị đóng băng nên bề ngoài nó rất giống khoai tây. Quan sát kỹ những vật nổi trong nồi, anh còn thấy cả những sợi cỏ chưa tiêu hóa hết.

Tình trạng thiếu thốn lương thực trong trại khiến các tù binh Nhật Bản phải tận dụng mọi cơ hội để bổ sung dinh dưỡng. Ở một số trại khác, có người đi nhặt nước thừa mà dân địa phương đổ bỏ; cũng có tù binh mang xác chó chết ngoài đường về chế biến. Họ mổ xác chó, cắt thịt thành từng miếng, cho cùng bắp cải vào hộp cơm rồi nấu chín. Vì con chó nhặt được là chó đực, họ còn thái tinh hoàn của nó thành từng lát như thịt nguội rồi đem nướng trong lò sưởi của phòng ngủ. Dù ăn xác chó không rõ nguyên nhân chết vốn tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhưng may mắn là nhóm tù binh ấy không ai gặp bất kỳ vấn đề sức khỏe nào.

Theo thống kê, rất nhiều người từng bị giam giữ ở Siberia khi nằm mơ hoặc mơ thấy người yêu, người thân, hoặc mơ thấy đồ ăn. Theo Ký sự trải nghiệm tù binh, trong thời gian bị giam tại Siberia, mười món ăn mà binh lính Nhật Bản thèm nhất gồm:

  1. Cơm lươn và lươn nướng.

  2. Bánh ohagi.

  3. Canh đậu đỏ.

  4. Tempura, canh miso và sushi.

  5. Thạch yōkan, bánh daifuku và sashimi.

  6. Sukiyaki.

  7. Bánh manju kiểu Nhật, bánh dorayaki, các món dưa muối, mì udon, rượu sake...

Ngoài ra, "món ăn do vợ nấu" và "món ăn do mẹ nấu" cũng nằm trong danh sách những điều họ nhớ nhất.