"Phía sau chúng tôi là hai chiếc tàu chỉ huy CT251 và DT652 được chuyển từ đường sá về Công viên Tài Nam năm 1983. Còn bốn chiếc mô hình tàu chỉ huy chạy bằng hơi nước các vị thấy trước mắt, là tôi hoàn thành vào khoảng năm 1990. Trong số đó có các mô hình loại CT250 và DT650, những chiếc này thường khó có dịp ra ngoài."

Chiều ngày 22 tháng 4 năm 2020, tại lễ công bố hoàn thành việc tu sửa hai chiếc tàu chỉ huy chạy bằng hơi nước ở Công viên Thể thao Tài Nam, thầy giáo Tô Sáng Bình Minh - chuyên gia đường sắt - giới thiệu như vậy. Mặc dù chỉ là lời giới thiệu đơn giản về nguồn gốc bốn chiếc mô hình tàu chỉ huy này, cũng như hai trong số đó có cùng loại với hai chiếc tàu thực tế vừa được tu sửa xong CT251 và DT652, nhưng ánh mắt của thầy toát lên sáng ngời và đam mê, dường như ẩn chứa nhiều câu chuyện thú vị.

Khi còn là học sinh, thầy Tô đã phải tự tìm kiếm từng bộ phận một, làm từng cái một bằng tay. Nhiều bộ phận thậm chí không thể mua sắm được phù hợp, mà phải tự gia công. Có thể hình dung được ý nghĩa quan trọng mà những mô hình tàu chỉ huy chạy bằng hơi nước này đại diện (bao gồm bốn loại mô hình CT250, DT650, CT270 và CK120). Sau khi thầy giáo lần lượt giới thiệu về nguồn gốc từng chiếc, ông tiếp tục chia sẻ kinh nghiệm nghiên cứu đường sắt được tích lũy trong ba mươi năm mà không giữ bí mật, khiến những người tham dự nghe với hết sức chăm chú.

Còn nhớ chiều hôm đó, ánh nắng chiều vàng nhạt rơi xuống, phản chiếu trên thân những chiếc tàu chỉ huy đen sì lớn nhỏ, tỏa ra ánh sáng lấp ló, như thể chúng có thể phun khí và chạy nước rút bất cứ lúc nào.

Không biết là vì bức cảnh quá đẹp hay sao, thầy Tô Sáng Bình Minh bỗng nhiên phấn khích, nói với một vị phụ nữ bên cạnh luôn bấm chóp máy ảnh: "Nếu chụp gần hơn, từ góc nhìn của tàu chỉ huy, liệu có giống như nó đang chạy phi nước đại phong không?" Thầy mượn máy ảnh của quý bà chụp được tấm ảnh khiến mô hình tàu chỉ huy như thực sự đang tăng tốc.

Tôi cũng không khỏi theo dõi lời của thầy, tập trung ánh nhìn vào hai chiếc mô hình tỉ lệ 1/50 này, nhìn thấy trục xe, vành bánh xe, mái tàu... chúng chi tiết đến mức lôi cuốn. Nhưng trong lòng lại nảy sinh hàng loạt câu hỏi: "Cái bảng phía trước làm gì?", "Bánh xe này có vây à, làm sao được?", "Thầy dành bao lâu để làm những mô hình này? Nhìn vào ánh mắt thầy, có thể hình dung được thầy đổ bao nhiêu công sức vào đây."

Cuối cùng, những câu hỏi kia dồn lại thành một vấn đề duy nhất, từ đó mà tôi bắt đầu tìm hiểu về tàu chỉ huy chạy bằng hơi nước, những mô hình này và thầy Tô Sáng Bình Minh:

"Chúng là ai?"

CT251 và DT652? Đó là hai bộ "mã hóa" sao?

Nói từ đầu, câu chuyện về hai chiếc tàu chỉ huy được đánh số CT251 và DT652 với Đài Loan bắt đầu từ năm 1935.

Tháng 9 năm đó, chính là thời kỳ Tổng đốc Đài Loan chuẩn bị cho "Triển lãm Đài Loan kỷ niệm 40 năm thành lập". Đây là một triển lãm nhằm tuyên truyền những thành tựu xây dựng của Nhật Bản tại Đài Loan trong 40 năm. Lúc đó, nhiều hoàng thân, quan chức cấp cao của Nhật Bản được mời đến tham dự sự kiện lớn này. Vì vậy, Tổng đốc phủ đã lần lượt đặt hàng với Công ty Mitsubishi Heavy Industries bốn chiếc tàu chỉ huy loại C55 mới nhất (chính là loại CT250 sau chiến tranh) và với Công ty Kawasaki Heavy Industries một chiếc, nhằm dùng để kéo các toa khách chở những vị khách danh tiếng. Nhưng đến thời điểm này, chỉ có chiếc C555 do Kawasaki sản xuất đã tới, sau khi chạy thử giữa Keelung và Taipei, dự kiến sẽ được đưa vào phục vụ vận tải hành khách từ Keelung tới Taichung trong thời gian diễn ra triển lãm (từ 10 tháng 10 đến 28 tháng 11). Còn những chiếc khác thì mới lần lượt về đến Đài Loan vào tháng 10 và 11.

Tuy nhiên, việc nhập khẩu tàu chỉ huy loại C55 thực sự tạo ra trải nghiệm đi tàu hoàn toàn mới cho hành khách. Tàu C55 chạy với tốc độ cao, khiến hành khách cảm thấy như đang ngồi trên gió, và theo bài viết trên báo Đài Loan Nhật báo thời kỳ đó, nó được gọi là "quái vật siêu sảng khoái". Thứ hai, nhờ tàu C55 nâng cao tốc độ, khoảng cách chạy được rút ngắn đáng kể, ảnh hưởng đến đời sống tại Đài Loan. Do vậy, Tổng đốc phủ xem nó là nhân vật chính dẫn dắt ngành vận tải hành khách đường sắt tiến bộ. Vì nhiều lý do như vậy, năm 1937, Tổng đốc phủ lại đặt hàng thêm bốn chiếc tàu chỉ huy cùng loại từ Mitsubishi, có thể hình dung được mức độ yêu thích của Tổng đốc phủ đối với loại tàu này.

Nói về DT652, nó thực ra thuộc loại D51 thời kỳ Nhật Bản, mối quan hệ của chúng với Đài Loan bắt đầu từ năm 1937. Khi Đài Loan theo Nhật Bản bước vào thời kỳ chiến tranh, nhu cầu vận tải quân sự tăng đáng kể: vật tư quân sự, lương thực quân đội, quân nhân... Vì vậy, Tổng đốc phủ Đài Loan nhập khẩu từ các nhà sản xuất Nhật Bản những tàu chỉ huy vận tải hàng hóa tiêu biểu loại D51. Chúng có lực kéo 17.000 kilôgam, một lần có thể kéo mười toa, trở thành loại tàu chỉ huy chạy bằng hơi nước có lực kéo mạnh nhất. Tàu D51 có tốc độ tối đa đạt 85 kilômet/giờ, so với tàu chỉ huy vận tải hành khách hoàn toàn không thua kém, do đó trở thành loại tàu vận tải hàng hóa được sản xuất hàng loạt tại Nhật Bản. Đối với Tổng đốc phủ Đài Loan, việc nhập khẩu những tàu chỉ huy hiện đại này cũng đánh dấu một bước tiến lớn của ngành vận tải hàng hóa đường sắt Đài Loan.

Chỉ trong các năm 1939 và 1940, Tổng đốc phủ đã nhập khẩu sáu chiếc tàu chỉ huy từ Công ty Kawasaki Heavy Industries và Công ty Ōsaka Motor, đánh số từ D511 đến D516. Sau đó, tiếp tục nhập khẩu tàu D51, thống kê cho thấy trước chiến tranh đã có 27 chiếc hoạt động tại Đài Loan, sau chiến tranh còn nhập thêm năm chiếc từ Nhật Bản (những chiếc bị chận lại do chiến tranh), và năm 1951 nhập thêm năm chiếc nhờ viện trợ Mỹ. Có thể hình dung mức độ được yêu thích của loại tàu này.

Những chiếc này được đổi đánh số sau chiến tranh, loại C551 đến C559 được đổi thành CT251 đến CT259; tương tự, tàu loại D51 được đổi tên thành DT650, đánh số được thay đổi thành DT651 đến DT687, đặc biệt có thể nhận thấy loại DT650 hoạt động với số lượng rất lớn tại Đài Loan. Cũng vì loại DT650 vẫn chạy để vận chuyển hàng hóa giữa lửa chiến, chúng tôi có thể nhìn thấy trên chiếc DT652 trưng bày ở Công viên Thể thao Tài Nam nhiều vết đạn còn sót lại, từ đó có thể tưởng tượng được hình ảnh nó anh dũng phóng nước rút trong mưa đạn khi máy bay chiến đấu của quân đồng minh tiến hành quét súng tại Đài Loan.

Chi tiết của tàu chỉ huy tỉ lệ 1/50

Để hiểu rõ hơn về hai chiếc tàu chỉ huy này, vào một chiều hơi nóng, tôi tới thăm "Bảo tàng Khoa học và Công nghệ Giao thông" do thầy giáo sáng lập. Trong bảo tàng đầy mô hình tàu hỏa, mô hình tàu chiến, mô hình máy bay, thầy giáo chỉ cho tôi thấy CT251 và DT652 được lưu trữ cẩn thận trong tủ.

"Chúng vẫn cần ở ngoài trời để thể hiện bản chất của mình, bây giờ chúng trông như những con chim bị nhốt trong lồng." Hai chiếc mô hình tàu chỉ huy mà thầy hoàn thành khi còn là học sinh này cho thấy mức độ tâm huyết thầy đã dành. Dù đã được thu nhỏ từ kích thước nguyên bản xuống tỉ lệ 1/50, vẫn có thể nhìn thấy nhiều chi tiết không hề sơ sài.

Chẳng hạn như "bảng quá khí" lắp ở hai bên ống khói, chính là biểu tượng của việc hai chiếc tàu này có thể chạy với tốc độ cao 85 kilômet/giờ. Mục đích của nó là để khí từ việc đốt than có thể thoát lên nhanh hơn, thông qua hướng dẫn luồng khí, nó có thể làm cho lửa trong lò cháy tươm tất hơn, cũng giúp tàu chỉ huy duy trì tốc độ cao.

Tiếp tục hướng ánh nhìn lên phía trên thân tàu một chút, từ khi loại CT250 được nhập khẩu, thiết kế thân tàu đã bước vào giai đoạn dòng động học. Cái gọi là thân tàu "dòng động học" chủ yếu là để khí lưu thông qua thân tàu một cách mịn màng hơn. Trước đây, phía sau ống khói có hai cái lồi rõ rệt, chủ yếu dùng để bao bọc hộp cát và bình hơi bên trong. Từ loại CT250 trở đi, không chỉ hợp nhất hai phần này, mà còn làm cho những lồi này trở nên tự nhiên hơn, chủ yếu cũng là để khi tàu chạy với tốc độ cao, luồng khí đi qua thân tàu được thuận lợi hơn.

Tiếp theo, thầy giáo hướng cho tôi chú ý đến những bánh xe khác nhau của hai chiếc mô hình tàu chỉ huy, chúng đúng lúc biểu thị một cuộc thay đổi thời đại. Khi còn sử dụng xe ngựa kéo, bánh xe được thiết kế theo kiểu bức xạ, một phía thuận tiện sản xuất, mặt khác cũng dễ bảo trì. Khi bước vào thời kỳ tàu chỉ huy chạy bằng hơi nước, kiểu thiết kế bánh xe vẫn theo truyền thống sử dụng bánh xe bức xạ. Tuy nhiên, bánh xe bức xạ khi đối mặt với thân tàu ngày càng nặng nề hơn và đường kính bánh xe phải tiếp tục mở rộng, các thanh chỗng trong bánh xe không thể chịu được, bánh xe dễ bị cong vênh hư hỏng. Do đó, loại tàu như CT251 xuất hiện bánh xe có vây, bằng cách thêm cấu trúc vây giữa các thanh, giúp tăng cường sức chịu đựng. Điều này thực sự mang lại hiệu quả với khả năng chịu tải của bánh xe, nhưng lại gây khó khăn trong sản xuất mô hình.

Vì trong bộ mô hình có sẵn của Nhật Bản không có thiết kế bánh xe có vây, thậm chí còn không có vật liệu cho loại C55 (CT250), nên cần phải sử dụng thân tàu loại C57 (CT270) và bánh xe bức xạ 1750mm loại C51 làm cơ sở, rồi tiếp tục cải tạo. Thầy giáo nói: "Để cải tạo hai chiếc tàu này, hoàn toàn phụ thuộc vào sự kiên trì và nỗ lực của bản thân." Chẳng hạn như cấu trúc vây của bánh xe, "là rất cẩn thận từng chút một dùng chất hóa lỏng để vá, sau khi vá xong rồi lại đánh bóng, lặp lại quá trình sanding nhiều lần mới có thể gần đúng với hình dáng bánh xe có vây." Cuối cùng còn phải sơn nữa mới hoàn thành. Tôi suy nghĩ kỹ, những công việc phức tạp này phải thực hiện trên bánh xe chỉ 3,5 centimét đường kính, từng chút một vá, sanding, có thể hình dung được sẽ khó khăn như thế nào. Chỉ riêng bánh xe đã phải kiên trì và cẩn thận đến vậy, có thể tưởng tượng thầy Tô đã dành bao nhiêu công sức cho hai chiếc mô hình tàu chỉ huy này.

Tái hiện bánh xe có vây của CT251.

Quay lại về sự phát triển của bánh xe, bánh xe có vây chỉ là giai đoạn quá độ. Trong sự tiến bộ của công nghệ công nghiệp, và nhất là khi bước vào thời kỳ chiến tranh, bánh xe bức xạ dễ vỡ đã bị loại bỏ, thay thế bằng bánh xe hình tròn có lỗ được ép nén, vì vậy loại tàu như CT270 và DT650 đều sử dụng kiểu bánh xe này.

Thông qua những lời giải thích của thầy Tô qua các mô hình, từ hai chiếc tàu chỉ huy này, chúng ta có thể nhìn thấy một quá trình thay đổi và phát triển của thời đại.

Thợ thực hiện một mục đích suốt đời

Gần hết cuộc phỏng vấn, thầy Tô Sáng Bình Minh vừa tán gẫu về tàu chỉ huy vừa chỉnh sửa những bức ảnh mô hình đã chụp trước, ông nói trong khi chỉnh sửa: "Chúng tôi những người nghiên cứu đường sắt, đôi khi ghét bản thân vì làm không đủ hoàn hảo. Suốt đời chúng tôi cố gắng hướng tới sự hoàn thiện, nhưng lại là vô tận. Chẳng hạn như chiếc cửa tàu này nên ở phía sau hơn một chút, có lẽ người bình thường nhìn không ra, nhưng tôi thực sự cảm thấy nó nên dịch về phía sau 80 centimét (tương ứng 1,6 centimét trên mô hình) mới đúng. Người bình thường sẽ coi chúng tôi là những kẻ điên."

Từ nhỏ, thầy Tô đã đặc biệt yêu thích tàu hỏa, vì vậy sau này ông chọn tập trung vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học quản lý giao thông. Khi học tiến sĩ tại Đại học Thành Công, mặc dù lúc đó xã hội đương nhiên cho rằng phát triển đường sắt đã rơi vào bế tắc, thầy Tô vẫn nhiệt huyết đi vào lĩnh vực này, không thay đổi ý chí ban đầu.

Thầy Tô nói: "Suốt đời làm tốt một việc, đã đủ." Năm 1996, thầy Tô hoàn thành một mô hình Trung tâm Điều khiển Tàu Điện CTC, không chỉ những chiếc tàu trên đó chạy được, mà còn có thể thực hiện điều khiển bằng máy tính. Điều này mở ra khúc khởi đầu của dự án "Kho tư vấn Đường sắt" kéo dài hơn 20 năm của thầy. Cho đến nay, thầy đã hoàn thành 48 cuốn sách chuyên môn, nội dung bao quát rộng lớn, từ đường sắt Đài Loan đến đường sắt thế giới đều có bóng dáng của thầy, hình thành nên một bộ sách toàn thư Kho tư vấn Đường sắt.

Cũng như lời cuối cùng thầy nói: "Một người thợ suốt đời không thay đổi, đổ sức vào việc mình yêu thích nhất, không phải vì phát hiện thế giới bên ngoài, mà vì phát hiện chính bản thân."

Người "thợ" đam mê đường sắt này đã dành suốt cuộc đời cho sự yêu thích nhất của mình.

Cảm ơn

Giám đốc Bảo tàng Khoa học và Công nghệ Giao thông - Thầy Tô Sáng Bình Minh

Bài viết này được công bố hợp tác với Sở Quản lý Di sản Văn hóa Thành phố Tài Nam.