Nghệ thuật tính thuế là cố gắng lấy được nhiều lông từ con ngỗng nhất có thể, nhưng khiến nó kêu la ít nhất. — Jean-Baptiste Colbert, bộ trưởng tài chính của Vua Louis XIV (1661-1683)

Đầu thập niên 1690, Kho bạc Anh quốc trống rỗi, cấp bách cần tiền. Tình cảnh này là do Vua William và Quốc hội của ông tự gây ra. Họ đã hủy bỏ một loại thuế bị ghét cay ghét đắng để giành lòng dân chúng.

Vua William III (1650-1702)

Bây giờ tay họ trắng trơn. Phải làm sao?

Mỗi gia đình Anh quốc đều có lò sưởi. Ngay từ trước năm 1066, khi người Norman xâm lược, người Anh đã phải nộp thuế lò sưởi, khi đó gọi là thuế khói hay thuế ống khí, thường nộp cho nhà thờ. Nhưng đến năm 1662, thuế lò sưởi chính thức trở thành luật pháp. Những ngôi nhà có giá trị vượt 20 shillings (tương đương khoảng 5.000 đô la Mỹ ngày nay) phải nộp thuế lò sưởi hai lần mỗi năm, mỗi lần một shilling cho mỗi lò sưởi. Điều này khiến những người trước đây không phải nộp thuế trực tiếp bất ngờ trở thành đối tượng bị đánh thuế, thậm chí cả những hộ nghèo. Nhân viên thuế được trả công hoa hồng, "thực thi quyền lực một cách kín đáo". Họ sẽ bước vào nhà dân sáu tháng một lần để kiểm tra số lượng lò sưởi, việc này xâm phạm nặng nề quyền riêng tư mà người Anh coi là thiêng liêng; càng tệ hơn là ý tưởng này lại đến từ Pháp. Người Anh kinh tởm thuế lò sưởi, và sự bất mãn dồn nén bùng nổ vào năm 1688 trong Cách mạng Vinh quang.

William và Mary nhận thấy đây là cách để một triều đại mới nhanh chóng giành lòng dân, nên họ hủy bỏ thuế lò sưởi, "để tưởng nhớ những công đức muôn vàn của Bệ hạ được khắc trên mỗi lò sưởi trong lãnh thổ".

Nhưng điều này lại dẫn đến một vấn đề lớn. William đã vay một khoản nợ khổng lồ từ Hà Lan để đuổi nhà vua cũ James II; các xung đột với Ireland và cuộc chiến ở châu Âu – được gọi là Cuộc Chiến Chín Năm – buộc ông phải chi tiêu quân sự khổng lồ. Thêm vào đó, ông còn phải đối phó với những đồng minh của James II ở Scotland, đồng thời nước có một cuộc khủng hoảng tỷ giá nhỏ đang chờ.

Đâu là cách để trả khoản tiền lớn này?

Năm 1696, ông tìm được giải pháp. Không cần suy ngẫm gì, chính là áp dụng một loại thuế mới: thuế nhà cửa, ánh sáng và cửa sổ – cái nổi tiếng là thuế cửa sổ.

Bây giờ, nhân viên thuế chỉ cần đứng bên ngoài một ngôi nhà và đếm số cửa sổ. Họ không phải xâm nhập vào bên trong, không có vấn đề xâm phạm riêng tư. Họ cũng không phải tiếp xúc với người nộp thuế, và người nộp thuế không phải chịu trách nhiệm khai báo. Bạn không thể che giấu cửa sổ, vì vậy bạn không thể trốn thuế. Nhờ kinh nghiệm từ thuế lò sưởi, hệ thống tính thuế đã được thiết lập. Loại thuế này dường như khá công bằng: người nào có cửa sổ càng nhiều, tức là càng giàu có, và khả năng nộp thuế của họ cũng càng cao.

Giống như nhiều luật pháp vĩnh viễn của chính phủ, thuế cửa sổ ban đầu chỉ tính là tạm thời. Khi lần đầu ra mắt, thuế suất khá thấp – những ngôi nhà có tối đa mười cửa sổ chỉ phải nộp cố định hai shillings. Nhưng theo thời gian, thuế suất tăng lên.

Không lâu sau, người dân không còn nộp thuế mà bắt đầu che giấu cửa sổ của mình. Đến năm 1718, chính phủ nhận thấy doanh thu thuế cửa sổ kém hơn dự kiến. Thay vì hạ thuế suất, chính phủ lại tăng nó. Kết quả là dân gian tìm ra những cách trốn thuế cực đoan hơn. Một số người khi xây nhà cố ý giảm số lượng cửa sổ, có người dùng gạch che phủ cửa sổ để lát sau này khai thông tường lấy ánh sáng. Có người thậm chí xây dựng những căn phòng ngủ không có cửa sổ. Trong thời đại chưa có điện, khí đốt hay dầu lửa, mà chỉ có lửa, nến bơ và đèn lau, che chắn ánh sáng mặt trời và không khí sẽ là một hy sinh lớn.

Vì thuế cửa sổ, dân gian Anh thường dùng gạch che phủ cửa sổ để giảm bớt nghĩa vụ thuế.

Năm 1746, chính phủ Vua George II công bố thuế kính, một loại thuế được tạp chí y học nổi tiếng The Lancet chỉ trích là "một sự phi lý trong việc đánh thuế ánh sáng". John Stuart Mill chỉ ra rằng kể từ sau đó, hai loại thuế này "trở thành thủ phạm chính gây ra những tòa nhà biến dạng", nhưng đồng thời cũng trở thành nguyên tắc hướng dẫn kiến trúc suốt 150 năm, quyết định hình dạng của những thị trấn và thành phố ở Anh quốc và Pháp (cũng áp dụng thuế cửa cửa sổ), và nhiều nơi vẫn còn giữ như vậy đến nay. Vì thuế dựa trên ngưỡng xác định số lượng cửa sổ của một tòa nhà, một số cư dân làng Wiltshire muốn bước vào tầng lớp thượng lưu đã sơn mặt tiền nhà mình thành hai màu trắng đen để ngụy trang thành cửa sổ. Năm 1797, Thủ tướng William Pitt tăng thuế kính lên gấp đôi, và có một thợ mộc báo cáo với Quốc hội rằng cả một con phố dân cư yêu cầu ông dùng gạch hoặc gỗ che phủ tất cả cửa sổ.

Thuế kính kìm hãm sự tăng trưởng của toàn bộ ngành công nghiệp. Trong giai đoạn từ 1801 đến 1851, dân số Anh quốc tăng từ 11 triệu lên 27 triệu. Chỉ riêng London tăng 170%, từ 1 triệu lên 2,7 triệu. Sự bùng nổ dân số cũng gây ra cơn sốt xây dựng. Tuy nhiên nhờ thuế kính, sản lượng kính trong giai đoạn này hầu như không thay đổi.

Cửa sổ trở thành biểu tượng của giàu có, thậm chí trong tiểu thuyết cũng vậy. Jane Austen viết trong "Kiêu hãnh và Định kiến":

"Elizabeth nhìn ra xa thoải mái, nhưng cô không bị mê hoặc bởi quang cảnh như ông Collins dự kiến. Cô hoàn toàn không bị ấn tượng khi ông ta đếm những cửa sổ phía trước nhà và khoe khoang về chi phí của chúng."

Mặc dù Mỹ không bao giờ áp dụng thuế cửa sổ, nhưng năm 1798 từng lo sợ nó sẽ dẫn đến nổi loạn – Cuộc Nổi Dậy Fries. Khi đó những nhân viên đánh giá thuế ở Pennsylvania đi tuần tra để đánh giá bất động sản nhằm áp dụng thuế nhà trực tiếp, những cư dân gốc Đức và Hà Lan lo sợ đây là tiền đề cho thuế cửa sổ, nên phát động một cuộc nổi dậy vũ trang. Cuộc biểu tình lây lan khắp tiểu bang, buộc Tổng thống John Adams phải huy động quân đội liên bang mất hai năm để dẹp yên.

Thuế cửa sổ không mang tính phát triển. Adam Smith viết:

"Một ngôi nhà quê hương cho thuê 10 bảng Anh có thể có nhiều cửa sổ hơn một ngôi nhà ở London cho thuê 500 bảng Anh."

Nhưng những ngôi nhà quê nghèo lại phải nộp nhiều thuế hơn. Chủ nhà nông thôn chịu gánh nặng thuế. Tuy nhiên những người bị ảnh hưởng nặng nề nhất là những cư dân nghèo thành phố, họ sống trong những tòa chung cư lớn suy tàn có rất nhiều cửa sổ, họ rất nhạy cảm với thuế cửa sổ. Chủ nhà – người chịu trách nhiệm nộp thuế – đơn giản che phủ những cửa sổ đó lại để giảm chi phí. Việc này dẫn đến hậu quả tàn phá nhất của thuế cửa sổ: mọi người bị bệnh. Trong thời Cách mạng Công nghiệp, những bệnh lây lan ở thành phố – đặc biệt là sốt thương hàn, đậu mùa và tả – trở nên tồi tệ hơn vì những căn hộ chật hẹp, ẩm thấp và không có cửa sổ. The Lancet chỉ rõ rằng loại thuế này "trực tiếp thúc đẩy bệnh tật". Một báo cáo khoa học chính thức nhận định rằng "có nhiều trường hợp chứng tỏ rằng hành động của chủ nhà trong việc che phủ cửa sổ để tránh thuế đã trở thành nguyên nhân chính dẫn đến bệnh tật và tử vong." Tuy nhiên, loại thuế này vẫn tiếp tục được áp dụng.

Vì thuế cửa sổ, người ta cố ý giảm số cửa sổ khi xây nhà, tạo ra những không gian bên trong không thông gió, không có ánh sáng, gián tiếp làm tăng nguy cơ bệnh tật lúc đó.

Đến thế kỷ 19, tiếng nói phản đối loại thuế này vang lên khắp nơi. "Câu nói 'tự do như không khí' đã lỗi thời," Charles Dickens thán, "từ khi áp dụng thuế cửa sổ, ánh sáng và không khí đều không còn là tự do nữa." Phong trào phản đối tiếp tục kéo dài nhiều thập kỷ, với vô số tờ rơi, bài hát và bài phát biểu liên quan. Năm 1845, sau khi tái áp dụng thuế tiêu dùng không lâu, Sir Robert Peel hủy bỏ thuế kính nhưng giữ lại thuế cửa sổ. Cho đến năm 1850, Quốc hội mới đưa ra một đề án hủy bỏ thuế cửa sổ. Theo thuyết lại, trong quá trình tranh luận, các nghị sĩ đã hô to "Daylight robbery!" (Cướp giữa ban ngày!), câu nói này sau đó trở thành thành ngữ để chỉ những khoản thuế cao không thể chịu được. Tuy nhiên đề án này cuối cùng vẫn thất bại. Cho đến khi có một phong trào phản đối toàn quốc khác nổi lên, loại thuế này mới được hủy bỏ năm 1851. Còn thuế cửa cửa sổ ở Pháp lại tiếp tục tồn tại thêm 75 năm nữa mới bị hủy bỏ.

Thuế cửa sổ chỉ là một loại thuế không quá dài tồn tại trong lịch sử, nhưng nó là một ví dụ tuyệt vời để minh họa cách một loại thuế ra đời và những ảnh hưởng của nó. Thông qua sự tiến hóa của nó, ta có thể thấy rõ vòng đời điển hình của một loại thuế.

Việc áp dụng thuế chủ yếu xuất phát từ nhu cầu thời thế, thường là để tài trợ cho một cuộc chiến tranh. Những loại thuế lúc ban đầu chỉ tính là tạm thời, nhưng sau này hầu hết trở thành vĩnh viễn. Mức thuế ban đầu rất thấp, nhưng sẽ tăng theo thời gian. Thuế xâm phạm tự do cơ bản của con người là được hưởng ánh sáng và không khí sạch. Nhiều người sẽ cố gắng trốn thuế bằng mọi cách, khiến thuế bóp méo hành vi và quyết định của con người. Thuế tạo ra những kết quả không lường trước, và khi nó trưởng thành hơn, những kết quả đó cũng tồi tệ hơn. Phần lớn doanh thu thuế bị lạm dụng hoặc chi cho những nơi người nộp thuế không ủng hộ. Cuối cùng mọi người cảm thấy chán chường, từ đó sinh ra những hành động – phong trào, biểu tình, thậm chí cả cách mạng – để yêu cầu hủy bỏ thuế trong khi chính phủ lại trì hoãn.

Khó mà nói thuế cửa sổ là tốt hay xấu, vì vậy sẽ quá đơn giản hóa. Loại thuế này hoạt động suôn sẻ trong một thời gian, sau đó lại mất hiệu lực. Ngoài những vấn đề khác, doanh thu thuế cũng được dùng để chi trả quốc phòng. Nhiều loại thuế về bản chất đều mang tính đạo đức mơ hồ. Một mặt nó xâm phạm quyền tài sản của cá nhân, gây ra những kết quả không lường trước; nhưng mặt khác, nó cũng là giải pháp thực tế nhất để chi trả các hoạt động của chính phủ. Vì vậy chúng ta mới hiểu tại sao Winston Churchill và nhiều người khác nói thuế là "một điều ác cần thiết". Vấn đề là: cần thiết đến mức độ nào mới được coi là ác?

Doanh thu thuế như thế nào quyết định lịch sử nhân loại sẽ đi theo hướng nào.