Zoe Zachary / CC BY-SA 2.0

Tác giả: 科技大觀園

Nguồn bài viết

Ở mỗi giai đoạn đời người, chúng ta đều phải đối mặt với đủ loại lựa chọn, từ chuyện nhỏ như trưa nay ăn gì, đến chuyện lớn như chọn trường, chọn việc, mua xe, mua nhà. Còn đối với học sinh trung học phổ thông, “nên học ban xã hội hay ban tự nhiên, đó là một vấn đề”.

Phân bố giới tính giữa các ngành xã hội và tự nhiên có thay đổi trong 20 năm qua không?

Nhắc đến chuyện chọn ban, rất nhiều người gần như theo trực giác sẽ nói ngay hiện tượng “ban xã hội nhiều nữ, ban tự nhiên nhiều nam”. Nhưng nếu 20, 30 năm trước là như vậy, thì trong hiện tại, khi bình đẳng giới được cổ vũ mạnh mẽ, liệu tình hình vẫn còn như thế không? Câu trả lời có lẽ khiến người ta ngạc nhiên: đúng vậy, trong 20 năm qua gần như không có thay đổi lớn.

image

Những năm gần đây, tỷ lệ nữ giới trong các khoa ngành khoa học – kỹ thuật tại các đại học trong nước không tăng rõ rệt. (Nguồn: Pixabay)

Theo số liệu năm 2016 của Cục Thống kê Bộ Giáo dục, tại Đài Loan, khoảng hai phần ba nam sinh chọn theo học các khoa ngành liên quan đến khoa học – kỹ thuật ở bậc đại học, trong khi nữ sinh chỉ chiếm một phần ba. Mà lựa chọn ngành học ở đại học lại có quan hệ mật thiết với việc chọn ban ở trung học phổ thông; hiện tượng nội dung học tập bị phân hóa theo giới tính thực ra đã xuất hiện từ rất sớm, ngay từ cấp trung học.

Nhưng chỉ biết hiện tượng thôi vẫn chưa đủ. Nguyên nhân khiến hiện tượng ấy xảy ra rốt cuộc là gì? Đây mới là điều Quách Hựu Thành (Kuo Yu-cheng, 郭祐誠) thực sự quan tâm. Và thế là một hành trình truy tìm sự thật bắt đầu.

Nữ sinh học ban xã hội là vì năng lực toán học kém?

Nhìn thấy khác biệt giới tính, một số người sẽ dùng định kiến để giải thích: “Nữ sinh chọn ban xã hội chắc là vì năng lực toán học không tốt.” Nhưng với tư cách một nhà nghiên cứu, khó tránh khỏi việc phải hỏi thêm một câu: thật vậy sao? Liệu có còn nguyên nhân nào khác không?

Muốn phá giải câu đố thì không thể thiếu manh mối. Manh mối của Quách Hựu Thành chính là một dự án khảo sát do Viện Nghiên cứu Trung ương, Bộ Giáo dục và Hội đồng Khoa học Quốc gia cùng quy hoạch: Cơ sở Dữ liệu Theo dõi Giáo dục Dài hạn Đài Loan (TEPS). Cơ sở dữ liệu này theo dõi số liệu trong suốt 7 năm, thông qua hình thức khảo sát bằng bảng hỏi, thu thập dữ liệu liên quan đến học sinh, phụ huynh, giáo viên và nhà trường, từ cấp trung học cơ sở đến trung học phổ thông, trung học nghề và hệ năm năm chuyên khoa.

image

Giáo sư Quách Hựu Thành, hiện công tác tại Khoa Kinh tế Đại học Phùng Giáp, chuyên về kinh tế lao động, kinh tế dân số và kinh tế giáo dục. Từ năm 2011, Giáo sư Quách bắt đầu dấn thân vào các nghiên cứu khảo sát về ảnh hưởng của giới tính, tuyển sinh đa dạng và những yếu tố khác đối với thành tích học tập. (Nguồn: Ảnh của Tào Thịnh Uy)

“Chúng tôi luôn thích những bộ dữ liệu như vậy, bởi khi nó bao phủ một khoảng thời gian tương đối dài, lại có cả một số dữ liệu lịch sử trước đó, thì những điểm chúng tôi có thể phát hiện và quan sát sẽ nhiều hơn, các suy luận đưa ra có lẽ cũng chính xác hơn.”

Thông qua TEPS, Quách Hựu Thành lần lượt phân tích ảnh hưởng của giới tính, năng lực toán học của học sinh và bối cảnh gia đình đối với việc chọn ban. Kết quả cho thấy: thành tích toán học năm lớp 7 của học sinh có ảnh hưởng đến việc chọn ban khi lên trung học phổ thông. Tính trung bình, chỉ cần thành tích tăng thêm một độ lệch chuẩn, xác suất học sinh đó chọn ban tự nhiên sẽ tăng từ 15% đến 19%.

image

Khi mọi người có cùng năng lực toán học, nữ sinh lại vẫn ít có xu hướng chọn ban tự nhiên hơn nam sinh. (Nguồn: Pixabay)

Tuy nhiên, ảnh hưởng của năng lực toán học đối với nam và nữ lại không hoàn toàn giống nhau. Khi dùng tứ phân vị để phân chia thành tích toán học năm lớp 7 của mọi người, trong nhóm có thành tích thấp nhất, xác suất nữ sinh chọn ban tự nhiên thấp hơn nam sinh 24%; nhưng trong nhóm có thành tích cao nhất, xác suất nữ sinh về sau chọn ban tự nhiên so với nam sinh lại thấp hơn đến 42%.

Bạn có phát hiện ra vấn đề không? Nếu đã nói thành tích ảnh hưởng đến việc chọn ban, thì theo lý mà nói, những nữ sinh có thành tích tốt tương đương cũng nên học ban tự nhiên. Nhưng kết quả lại không phải như vậy. Nói cách khác, năng lực toán học không thể giải thích hoàn toàn tình trạng nam nhiều nữ ít ở các nhóm ngành tự nhiên và kỹ thuật.

Nhìn bạn học thời trung học cơ sở để thấy tương lai? Một phát hiện ngoài dự đoán

Nếu khác biệt về năng lực toán – lý của cá nhân không thể giải thích hoàn toàn sự chênh lệch giới tính, vậy có phải do môi trường bên ngoài hay không?

Trước đây, ở nước ngoài cũng từng có những thảo luận liên quan, cho rằng trong các trường nam sinh hoặc nữ sinh riêng biệt, định kiến giới về môn học ít dễ hình thành hơn. Dù sao, bạn bè cùng lứa đều có cùng giới tính với mình, nên lý do kiểu “vì tôi là nữ nên toán – lý kém” dường như không còn phù hợp. Vì vậy, nếu muốn khuyến khích nữ giới dấn thân vào các lĩnh vực STEM, có thể thúc đẩy giáo dục đơn giới.

Chẳng hạn, Hillary Clinton từng thông qua lập pháp để mạnh mẽ ủng hộ việc thành lập giáo dục đơn giới. Nhưng cũng có một số tiếng nói phản đối cho rằng, kiểu giáo dục tách biệt giới tính này có thể tạo ra những vấn đề khác, chẳng hạn như củng cố định kiến giới.

image

Tỷ lệ nam nữ trong lớp học cũng ảnh hưởng đến kết quả chọn ban của học sinh! (Nguồn: Pixabay)

Vì vậy, Quách Hựu Thành tiếp tục đặt trọng tâm nghiên cứu vào “cấu trúc giới tính”, muốn tìm hiểu: cấu trúc giới tính của môi trường học tập ở trung học cơ sở liệu có ảnh hưởng đến lựa chọn ngành học về sau của học sinh hay không?

Kết quả cho thấy, tỷ lệ giới tính trong lớp ở giai đoạn trung học cơ sở quả thật có ảnh hưởng đến lựa chọn ngành học, nhưng ảnh hưởng đối với hai giới lại không giống nhau.

Đối với nam giới, nếu ở trong lớp có nhiều nữ sinh hơn, xác suất họ chọn những ngành học vốn được xem là dòng chính theo giới tính sẽ giảm xuống. Nói cách khác, họ có khả năng chọn các ngành nhân văn nhiều hơn. Nhưng mặt khác, khi nữ sinh chọn ngành, các em lại ít dễ bị tỷ lệ giới tính trong lớp ảnh hưởng hơn.

Ông còn chia sẻ một hiện tượng khác đáng để thảo luận: đối với nữ sinh, giữa “học thêm” và “chọn ban tự nhiên” tồn tại tương quan âm. So với những nữ sinh chưa từng học thêm, các nữ sinh từng đi học thêm ít có xu hướng học ban tự nhiên hơn. Còn ở nam sinh, mối liên hệ giữa hai yếu tố này lại không rõ rệt.

Những năm gần đây, ngày càng có nhiều nam sinh bắt đầu chọn các ngành học không thuộc dòng chính theo giới tính của mình; điều này có lẽ là do phân bố giới tính trong lớp học ở trung học cơ sở dần trở nên cân bằng hơn. Chỉ có điều, nếu muốn phá vỡ trạng thái định kiến hiện nay, chỉ điều chỉnh tỷ lệ giới tính trong môi trường học tập dường như vẫn khó có thể khiến nhiều nữ giới hơn dấn thân vào các lĩnh vực STEM.

Phá vỡ bức tường giới tính, có lẽ chúng ta có thể...?

Tổng hợp các quan điểm nước ngoài và nghiên cứu của chính mình, Quách Hựu Thành nhắc đến rằng “dạy học phân nhóm” có lẽ là con đường thứ ba ngoài trường nam – nữ riêng biệt và trường nam nữ học chung. Chẳng hạn, trong các giờ học liên quan đến toán – lý có thể tiến hành phân nhóm, qua đó tránh để học sinh quy thành tích học tập cho giới tính.

image

Dạy học phân nhóm và giáo viên nữ trong các môn tự nhiên đều có thể trở thành những lựa chọn khả dĩ để phá vỡ bức tường giới tính. (Nguồn: Pixabay)

Đồng thời, việc cung cấp cho học sinh những hình mẫu cùng giới cũng có thể giúp xây dựng sự tự tin. Chẳng hạn, nếu giáo viên bộ môn toán – lý là nữ, hình mẫu như vậy có thể khuyến khích nữ sinh trong tương lai lựa chọn các khoa ngành liên quan.

Một số nghiên cứu cho rằng, việc cung cấp hình mẫu cho nữ sinh, sử dụng “ngôn ngữ bao dung” không tạo ra phân biệt giới trong lớp học, hoặc giới thiệu nhiều hơn về các công việc liên quan đến STEM, đều sẽ góp phần thúc đẩy cân bằng giới trong các lĩnh vực liên quan.

Ngoài năng lực toán học, càng nên coi trọng năng lực logic

Ngoài việc điều chỉnh phương pháp dạy học, Quách Hựu Thành cho rằng học tập “nên nhấn mạnh tầm quan trọng của năng lực logic, chứ không nên có khác biệt vì giới tính”. Đặc biệt trong một thế giới mà thông tin biến đổi nhanh đến như vậy, logic là điều quan trọng đối với bất kỳ môn học hay lĩnh vực nào.

Quách Hựu Thành còn lấy chính mình làm ví dụ: “Tôi cảm thấy toán của mình không tốt, nhưng tôi vẫn có thể làm nghiên cứu, làm suy luận. Ngay cả khi kể chuyện, tôi cũng hy vọng kể bằng một cách có hệ thống và có logic.” Nhớ lại khi năm xưa thi liên khảo vào đại học, phần lớn nguyện vọng của ông đều là các khoa ngành liên quan đến nhân văn, nhưng cuối cùng lại được phân vào khoa kinh tế. Ông vốn tưởng cuối cùng cũng có thể tránh được toán, nhưng rồi tất cả lại xuất hiện ngay trước mắt: vi tích phân, thống kê... thực ra khiến người ta có phần bài xích.

Nhưng sau khi học, ông phát hiện rằng nội dung mà kinh tế học thảo luận thực ra cũng chính là các “vấn đề xã hội” theo nghĩa rộng. Những lĩnh vực vốn đã khiến ông hứng thú thực ra có thể được làm rõ bằng công cụ một cách logic hơn, được sắp xếp mạch lạc hơn từ góc độ khách quan, nhờ đó ông có thể thảo luận nhiều hơn về những nội dung mình quan tâm. Giả sử chỉ vì việc học toán – lý tương đối khó khăn mà hoàn toàn từ bỏ tư duy logic liên quan, rất có thể chúng ta sẽ bỏ lỡ một cơ hội như vậy để hiểu thế giới.

Chương trình 108 đã lên đường! Tương lai sẽ thay đổi thế nào?

Từ năm học 111, bài kiểm tra năng lực học tập để học sinh trung học phổ thông vào đại học sẽ đổi thành thi phân khoa, chuyển sang chế độ cấp điểm, đồng thời cho phép học sinh tự do lựa chọn môn thi. Liệu cải cách như vậy có khiến học sinh từ bỏ lĩnh vực toán – lý sớm hơn, hoặc làm thay đổi chênh lệch tỷ lệ giới tính hay không?

image

Bạn nghĩ Chương trình 108 sẽ tạo ra ảnh hưởng gì đối với xu hướng chọn ban của học sinh? (Nguồn: Pixabay)

Quách Hựu Thành thẳng thắn cho biết, ở giai đoạn hiện nay vẫn chưa thể phán đoán, bởi hành vi của con người phức tạp đến vậy; muốn dự đoán trước hoặc quy nguyên nhân trong thời gian ngắn là điều rất khó. Ngoài ra, trong quá trình theo đuổi cải cách giáo dục, nếu chỉ thay đổi hình thức thi cử mà về căn bản, tư duy “theo đuổi trường danh tiếng” vẫn không thay đổi, thì thực ra vẫn rất dễ rơi vào lối mòn của hệ thống cũ.

Về điều này, ông cũng chia sẻ những quan sát và kinh nghiệm của bản thân khi giảng dạy ở đại học, đồng thời nhắc nhở rằng: bất kể chế độ thi cử thay đổi ra sao, việc hình thành thói quen học tập là vô cùng quan trọng. Nếu có thể nuôi dưỡng thái độ tự giác trong học tập, đó mới là yếu tố then chốt thực sự có thể ảnh hưởng đến tương lai của học sinh.