Nguồn bài gốc

Tôi lựa chọn nhân vật để viết vì một sự quan tâm mãnh liệt đối với họ, cùng khát vọng mạnh mẽ muốn khám phá sự thật về họ. Còn nguyên tắc viết của tôi rất đơn giản: kể những câu chuyện cụ thể, để chi tiết tự lên tiếng; diễn đạt chính xác, rõ ràng và truyền tải đúng điều cần nói, vậy là đủ.

Nhà văn Trương Nhung nói như vậy.

Kể từ khi cuốn 《Thiên nga hoang dã: Ba người phụ nữ Trung Quốc》 (Wild Swans: Three Daughters of China) ra mắt năm 1991, đã hơn ba thập kỷ trôi qua. Với Trương Nhung, đây không chỉ là tác phẩm đầu tay mà còn là cuốn sách đã mở ra con đường văn chương của bà.

Trương Nhung chỉ mất hơn hai năm để hoàn thành cuốn sách khá đồ sộ này. Tuy nhiên, những chất liệu của nó thực ra đã được ấp ủ trong tiềm thức suốt nhiều năm. Được khơi nguồn từ câu chuyện của chính mẹ mình, mạch viết tuôn chảy một cách tự nhiên, không cần gò ép hay cố tình sắp đặt. Tác phẩm kết hợp số phận cá nhân với dòng chảy lịch sử, đan xen tình cảm gia đình và vận mệnh đất nước, từ đó hình thành phong cách viết đặc trưng của Trương Nhung.

Thành công của 《Thiên nga hoang dã》 mang lại cho bà điều quý giá nhất: tự do. Không còn phải bận tâm đến vấn đề mưu sinh, bà có thể toàn tâm toàn ý dành cho việc viết lách, dù phải mất bao nhiêu năm để hoàn thành một cuốn sách cũng không còn là điều đáng lo.

image

Nhà văn Trương Nhung (hàng trước, ngoài cùng bên phải) khi mới một tuổi, ngồi trên đùi người vú nuôi chụp ảnh cùng gia đình. Người đứng ngoài cùng bên phải ở hàng sau là cha bà – người có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến niềm đam mê đọc sách của bà. Ảnh được đăng trong 《Thiên nga hoang dã》. (Nguồn: Nhà xuất bản Rye Field Publishing)

Sau thành công của 《Thiên nga hoang dã》, Trương Nhung bắt đầu lên kế hoạch cho tác phẩm tiếp theo: một cuốn tiểu sử về Mao Trạch Đông. Thực ra, ý tưởng này đã nảy sinh ngay từ khi bà còn đang viết 《Thiên nga hoang dã》. Cũng nhờ danh tiếng mà cuốn sách mang lại, bà có cơ hội tiếp cận và phỏng vấn nhiều nguyên thủ quốc gia cùng hầu như tất cả những nhân vật mà bà mong muốn gặp gỡ.

Vì thế, từ năm 1991, Trương Nhung và chồng bà, Jon Halliday, chính thức bắt đầu hành trình kéo dài nhiều năm để hoàn thành 《Mao: The Unknown Story》 (Mao Trạch Đông: Câu chuyện chưa từng được kể).

Để hiểu rõ về Mao Trạch Đông, hai vợ chồng đã phỏng vấn gần một trăm nhân vật, từ các nhà lãnh đạo chính trị nhiều quốc gia cho đến những người từng làm việc thân cận với Mao. Danh sách đầy đủ các cuộc phỏng vấn được tổng hợp ở phần cuối cuốn sách, đủ để thấy quy mô đồ sộ của công trình nghiên cứu này.

Với Trương Nhung, mỗi cuộc phỏng vấn đều để lại những kỷ niệm khó quên. Bà kể, năm 1993, hai vợ chồng đã đích thân tới Manila để phỏng vấn cựu Đệ nhất phu nhân Philippines Imelda Marcos. Nhắc lại cuộc Cách mạng Quyền lực Nhân dân năm 1986 khiến bà và chồng phải rời khỏi đất nước, Imelda nói: - “Chúng tôi cũng từng có một Thiên An Môn, chỉ khác là chúng tôi đã không nổ súng.”

Sau đó, Imelda kể lại chuyến thăm Trung Quốc năm 1974 cùng chồng mình. Trong bối cảnh Cách mạng Văn hóa, khi mọi biểu hiện của “lối sống phương Tây” đều bị lên án, Mao Trạch Đông lại bất ngờ nâng tay bà lên và hôn lên mu bàn tay. Với người phương Tây, đó chỉ là một cử chỉ chào hỏi lịch thiệp, nhưng ở Trung Quốc thời bấy giờ, đó gần như là điều không thể tưởng tượng. Chính vì vậy, nhiếp ảnh gia riêng của Mao đã chần chừ không dám bấm máy. Tuy nhiên, máy quay của đoàn làm phim thời sự vẫn tiếp tục ghi hình và lưu lại khoảnh khắc hiếm hoi ấy. Hình ảnh này sau đó cũng được đưa vào 《Mao: The Unknown Story》, như một lát cắt cho thấy một góc rất khác của Mao Trạch Đông.

image

Bức ảnh hiếm ghi lại khoảnh khắc Mao Trạch Đông hôn lên mu bàn tay Imelda Marcos trong chuyến thăm Trung Quốc năm 1974, như được Trương Nhung đề cập trong 《Mao: The Unknown Story》. (Nguồn: Nhà xuất bản Rye Field Publishing)

Ngoài việc phỏng vấn hàng trăm người, để viết cuốn sách này, Trương Nhung và Jon Halliday cũng đọc một khối lượng lớn tư liệu lịch sử và hồ sơ lưu trữ, trong đó có không ít tài liệu cực kỳ hiếm và rất khó tiếp cận.

Có thể nói, Liên Xô cũ là một kho tư liệu quý giá về Mao Trạch Đông. Khi Moscow còn giữ vai trò chỉ huy các đảng cộng sản trên khắp thế giới, toàn bộ văn kiện của các đảng này đều phải được gửi về Moscow. Ngay cả Cục Lưu trữ Trung ương tại Bắc Kinh, nơi chuyên lưu giữ các tài liệu lịch sử của Đảng Cộng sản Trung Quốc, cũng có nhiều tư liệu vốn do nhà lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev trao lại cho Trung Quốc năm xưa.

Khi Trương Nhung và Jon Halliday nghiên cứu về Mao, nước Nga đang dưới thời Tổng thống Boris Yeltsin. Ông đã mở cửa các kho lưu trữ của Nga, khiến lịch sử các đảng cộng sản trên thế giới buộc phải được viết lại. Nhờ biết tiếng Nga, Jon Halliday năm này qua năm khác miệt mài làm việc trong kho tư liệu khổng lồ ấy.

Ngoài kho lưu trữ của Nga, kho lưu trữ Bulgaria cũng là một nguồn ít người biết đến. Tại đó, Jon Halliday tìm được một tờ biên nhận do chính Mao ký sau khi nhận khoản viện trợ 300.000 USD từ Moscow. Đây có thể xem là một tư liệu lịch sử vô cùng quý giá.

So với Nga và Bulgaria, việc tiếp cận tư liệu ở Trung Quốc tất nhiên gặp nhiều trở ngại hơn, bởi các kho lưu trữ then chốt không được mở cửa. Tuy vậy, những rào cản ấy không phải là không thể vượt qua.

Vào thập niên 1980, dưới thời Hồ Diệu Bang cầm quyền, nhiều cơ quan lưu trữ, bao gồm cả Cục Lưu trữ Trung ương, đã biên soạn và xuất bản các tập tài liệu lịch sử theo từng sự kiện quan trọng của lịch sử hiện đại. Các lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc như Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai… đều có những bộ niên phổ chi tiết dựa trên tư liệu lịch sử. Ngoài ra còn có rất nhiều tiểu sử nhân vật, hồi ký và các công trình khác cũng được xây dựng trên nền tư liệu lưu trữ.

Bên cạnh những nguồn trên, còn có một số tư liệu hiếm hơn, chẳng hạn tám bản thảo thơ, văn và thư từ của Dương Khai Tuệ – vợ Mao Trạch Đông – ghi lại câu chuyện Mao rời bỏ bà vào năm 1927. Từ những bản thảo này, có thể cảm nhận được tình yêu của bà dành cho Mao, nỗi đau bị Mao bỏ rơi, cũng như sự oán trách trước việc Mao nhẫn tâm bỏ lại ba người con trai.

Dương Khai Tuệ đã gói những bản thảo ấy bằng giấy sáp, giấu trong khe gạch bùn của bức tường ngôi nhà cũ và dưới mái hiên. Chúng chỉ được phát hiện trong hai lần tu sửa ngôi nhà vào các năm 1982 và 1990. Trong số đó, có năm bản vẫn luôn được giữ kín. Một bản mang tên 《Từ sáu tuổi đến hai mươi tám tuổi》 là lời tự thuật khi bà cảm thấy mình có thể sắp bị bắt và nhìn lại cuộc đời; văn bản kết thúc bằng sự thất vọng hoàn toàn của bà đối với niềm tin cộng sản. Trương Nhung may mắn có được toàn bộ các bản thảo này.

Nhìn lại những ngày tháng “lên tận trời xanh, xuống tận suối vàng” để truy tìm tư liệu, điều khiến Trương Nhung tiếc nuối là bà không thể cảm ơn những người đã giúp mình. Sau khi sách xuất bản, vì sợ liên lụy đến họ, bà không liên lạc để nói lời cảm ơn, và phần “lời cảm tạ” trong sách cũng không có tên họ. Nhưng Trương Nhung biết rằng họ hiểu bà; họ cũng không đòi hỏi điều gì ở bà, chỉ mong thông qua bà để sự thật được đưa ra ánh sáng.

Trong quá trình truy tìm “sự thật” ấy, phần khó nhất đối với Trương Nhung là viết về Đại Nhảy Vọt: phải hiểu cho rõ phong trào đã khiến hàng chục triệu người chết đói trong giai đoạn 1958–1961 rốt cuộc là chuyện gì, và vì sao nó xảy ra.

Sau nhiều năm nghiên cứu, cuối cùng bà đi đến kết luận: Mao có một “giấc mộng” – trong đời mình, ông muốn biến Trung Quốc thành một siêu cường quân sự, khiến cả thế giới phải nghe theo mình. Vì mục tiêu đó, ông nhập khẩu trọn bộ công nghệ và thiết bị quân sự từ Liên Xô và Đông Âu. Nhưng Mao không hiểu kinh tế, lại cực kỳ ích kỷ, chỉ chăm chăm muốn tận hưởng địa vị bá chủ thế giới ngay trong “đời mình”; vì thế ông một mực tham nhiều, muốn nhanh, tiến hành xây dựng bằng những phương thức cực kỳ lãng phí, chẳng hạn như phong trào toàn dân luyện thép. Đó chính là Đại Nhảy Vọt. Để thanh toán cho các bộ công nghệ và thiết bị quân sự ấy, Mao chọn cách xuất khẩu sang Liên Xô và Đông Âu lương thực cùng các loại thực phẩm khác – những thứ mà người dân Trung Quốc phải dựa vào để sống. Ngay trước nạn đói lớn, Mao đã hiểu rõ rằng làm như vậy sẽ khiến hàng chục triệu người Trung Quốc chết đói, nhưng ông hoàn toàn không bận tâm.

Trương Nhung nói, đi đến kết luận này không hề dễ dàng, bởi bà phải đối diện với một cái ác vượt xa mọi tưởng tượng. Thực ra, quá trình viết cuốn sách này cũng chính là hành trình từng bước đi sâu hơn để hiểu bản chất của cái ác.

image

Poster tuyên truyền thời Đại Nhảy Vọt. (Nguồn: Wikimedia Commons, phạm vi công cộng)

《Mao: The Unknown Story》 (Mao Trạch Đông: Câu chuyện chưa từng được kể) cuối cùng được xuất bản vào năm 2005. Có thể hình dung, vì các lý do chính trị, cuốn sách đã bị cấm đoán và công kích. Đó là điều Trương Nhung hoàn toàn không thể kiểm soát; bà chỉ có thể “mặc kệ nó vậy”.

Tuy nhiên, trước khi sách xuất bản, Trương Nhung từng đặt rất nhiều kỳ vọng vào những phê bình và chất vấn học thuật. Bà hình dung sẽ có những cuộc tranh luận dựa trên cách diễn giải khác nhau về tư liệu lịch sử, và cảm thấy điều đó cũng khá thú vị. Nhưng kết quả khiến bà rất ngạc nhiên: những phê bình, chất vấn từ các học giả nghiên cứu vấn đề Trung Quốc ở hải ngoại lại chủ yếu là chỉ trích hai vợ chồng bà đã mô tả Mao quá xấu. Những người phê bình còn xuất bản một tập sách với nhan đề: 《Mao Trạch Đông có thật sự tà ác không?》.

Trước những người nhất quyết biện hộ cho Mao, Trương Nhung cảm thấy không còn gì để nói. Đã có quá nhiều sự thật được viết bằng máu mà ngay cả họ cũng không phủ nhận được công bố trước công chúng; tiếp tục tranh luận về vấn đề này chẳng khác nào tranh cãi xem Hitler, Stalin hay Pol Pot là người tốt hay người xấu. Bà quyết định không lãng phí thời gian nữa, mà tập trung sức lực để viết cuốn sách tiếp theo, chuyển sang nghiên cứu Từ Hi Thái hậu.

Đối với Trương Nhung, sách của bà là kể những câu chuyện cụ thể, để chi tiết tự lên tiếng; chính xác, rõ ràng, truyền đạt đúng điều cần nói – vậy là đủ.

image

Ảnh tác giả 《Mao: The Unknown Story》 Trương Nhung, do Jon Halliday chụp. (Nguồn: Nhà xuất bản Rye Field Publishing)

Nếu nói viết lách là cả đời Trương Nhung, thì đọc sách chính là nguồn dưỡng chất nuôi dưỡng bà. Và có lẽ chính vì từng trải qua Cách mạng Văn hóa, Trương Nhung càng thấm thía sự quý giá khó có được của “sách”.

“Đọc sách là sở thích của tôi từ nhỏ, điều này có liên quan đến sự bồi dưỡng của cha tôi. Với ông, sách giống như sinh mệnh. Ông dùng tất cả số tiền dư để mua sách; sách trong phòng làm việc chất từ sàn nhà lên đến tận trần. Khi còn nhỏ, bước vào phòng sách của cha để đọc sách đối với tôi giống như cung kính bước vào một thánh điện: trước tiên phải rửa tay rồi mới được lật sách. Ngay cả cách lật sách cũng có rất nhiều quy tắc, chẳng hạn phải nhẹ nhàng nhấc góc trang phía ngoài lên, chứ không được lật ở gần gáy sách, để tránh vô tình làm rách trang.”

Thế nhưng, khi Trương Nhung 14 tuổi, Cách mạng Văn hóa bùng nổ. Mọi cuốn sách đều bị coi là “cỏ độc”, và một làn sóng đốt sách lan khắp cả nước. Bà tận mắt chứng kiến tủ sách của cha bị thiêu hủy, chứng kiến nỗi đau tột cùng không gì kìm nén nổi của ông, để rồi cuối cùng ông suy sụp tinh thần. Những ký ức ấy mãi mãi không thể phai mờ.

Năm 1973, sau nhiều năm đóng cửa, các trường đại học bắt đầu mở cửa trở lại một phần. Trương Nhung vào học ngành tiếng Anh tại Đại học Tứ Xuyên và bắt đầu đọc một số tác phẩm kinh điển bằng tiếng Anh, như Little Women của Louisa May Alcott, các kiệt tác của Jane Austen…

Điều thú vị là, mặc dù thư viện cũng bị lục soát trong Cách mạng Văn hóa, phần lớn tổn thất lại rơi vào sách tiếng Trung; sách tiếng Anh thì được giữ lại. Dẫu vậy, chúng cũng bị xáo trộn hoàn toàn. Mỗi lần Trương Nhung cần tìm sách, các thủ thư đều phải lục lọi giữa những chồng sách ngổn ngang để tìm giúp bà, nhưng họ luôn rất sẵn lòng. Bởi giữa những người yêu sách luôn tồn tại một sợi dây gắn kết vô hình.

Đọc và viết đã đồng hành cùng Trương Nhung suốt phần lớn cuộc đời. Một, hai năm gần đây, khi phải cách ly ở nhà vì đại dịch, bà cũng bắt đầu đọc nhiều tác phẩm mà trước đây mình ít đọc, từ Marcel Proust đến Joseph Conrad, từ Henry James đến George Eliot – quả thật là đọc một cách thỏa thuê. Trương Nhung nói rằng, được những bậc thầy ấy bầu bạn trong thời gian cách ly, bà không cảm thấy quá đau khổ.

image

Ảnh nhà văn Trương Nhung, do Zhang Xiaohong chụp. (Nguồn: Nhà xuất bản Rye Field Publishing)

Về tác giả

Trương Nhung sinh năm 1952 tại Nghi Tân, Tứ Xuyên. Trong Cách mạng Văn hóa, bà từng làm nông dân, công nhân đúc và thợ điện. Năm 1973, bà theo học Khoa Ngoại văn tại Đại học Tứ Xuyên. Năm 1978, bà sang Anh du học; năm 1979 vào Đại học York, chuyên ngành ngôn ngữ học; năm 1982 nhận bằng tiến sĩ, trở thành người Trung Quốc đại lục đầu tiên nhận bằng tiến sĩ tại Anh kể từ khi Đảng Cộng sản Trung Quốc lên cầm quyền. Bà từng giảng dạy tại Trường Nghiên cứu phương Đông và châu Phi (SOAS), Đại học London, và là viện sĩ danh dự của trường. Các tác phẩm hiện có của bà gồm: 《Thiên nga hoang dã: Ba người phụ nữ Trung Quốc》, 《Mao: The Unknown Story》, 《Từ Hi: Vị thái hậu khai sinh Trung Quốc hiện đại》, 《Ba chị em họ Tống và những người chồng》.