Phùng Khách (Frank Dikötter) tác, Tiêu Hòa, Hướng Thục Dung, Nghiêu Gia Ninh dịch,

"Bộ Ba Phần Nhân Dân": "Giải Phóng của Bi Kịch", "Đại Đói Đói của Mao Trạch Đông", "Cách Mạng Văn Hóa",

Liên Kinh Xuất Bản, 2021.

Bộ ba phần "Nhân Dân" của Phùng Khách là một kiệt tác sử học. Ba tác phẩm khổng lồ này về Trung Quốc cộng sản hiện đại được xuất bản theo thứ tự bắt đầu từ Đại Nhảy Vọt, rồi đến Giải Phóng, và cuối cùng là Cách Mạng Văn Hóa. Mặc dù đó là những tác phẩm sử học lớn lao, nhưng Phùng Khách lại sở hữu kỹ năng viết lách vô cùng xuất sắc trong việc "sử dụng sơ khai để quản lý phức tạp", khiến cho độc giả phổ thông cũng có thể tận hưởng lịch sử Trung Quốc phức tạp và mơ hồ. Điều này cũng nhận được sự xác nhận từ các giải thưởng viết lách nổi tiếng của Anh: "Giải Phóng của Bi Kịch: Lịch Sử Cách Mạng Đảng Cộng Sản 1945-1957" từng được đề cử Giải Orwell (Orwell Prize), trong khi "Đại Đói Đói của Mao Trạch Đông: Lịch Sử Thảm Họa Trung Quốc 1958-1962" đã giành được Giải Samuel Johnson (Samuel Johnson Prize).

Ba tác phẩm này thoạt nhìn có vẻ nặng nề, nhưng khi đọc lại vô cùng trôi chảy. Chủ đề cốt lõi của Phùng Khách rất rõ ràng, sắp xếp các chương cũng có cấu trúc rõ rệt: thứ nhất là minh thị bản chất chính trị của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, thứ hai là mô tả những gì nhân dân Trung Quốc trải qua và cảm nhận được, cũng như sức hành động của họ mà ngay cả trong giữa tai ương thiên tai cũng không thể bị che đậy.

Đầu tiên, trục chính đầu tiên là tính chất chính trị của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, tức là thao túng và bạo lực, đặc biệt là Đảng Cộng Sản dưới sự kiểm soát của Mao Trạch Đông, trong suốt hai mươi năm từ "giải phóng" đến Cách Mạng Văn Hóa, làm cho toàn bộ lục địa Trung Quốc bị lâm vào tình trạng đảo lộn từ trong ra ngoài. Chiến thuật đấu tranh của Đảng Cộng Sản là phi đen tức trắng, hoặc chỉ có thể là đen trắng. Từ giai đoạn đầu của cải cách ruộng đất, ta có thể rõ ràng thấy rằng cái gọi là "công tác nông thôn" của Đảng Cộng Sản chẳng qua là cứng nhắc áp dụng lý thuyết, cường chế tạo ra các giai cấp ban đầu không tồn tại, nhân tạo tạo ra những mâu thuẫn giai cấp ban đầu không có, cố ý biến điều tốt thành xấu. Phùng Khách chỉ ra rằng hai cái bù nhìn rơm do Đảng Cộng Sản lập ra thực ra không tồn tại:

"Đời sống của nông dân rất đa dạng [...] rất khó nói rằng tồn tại một giai cấp gọi là địa chủ, nông thôn không tồn tại một giai cấp quý tộc nắm quyền cai trị, cũng không hình thành chế độ nông nô kiểu châu Âu. Cũng không tồn tại chủ nghĩa phong kiến mà Đảng Cộng Sản nói tới. Ở Trung Quốc, trong vài thế kỷ qua, việc mua bán đất đai đều có luật lệ, và nội dung hợp đồng rất hoàn chỉnh [...] mặc dù phần lớn đất đai nắm giữ bởi một số ít người, nhưng đất đai có thể tự do mua bán khắp mọi nơi, quyền cho thuê cũng được quy định bởi hợp đồng."

Phùng Khách trích dẫn dữ liệu từ trước Nội Chiến Quốc Cộng để chỉ ra rằng hệ thống sở hữu đất đai của Trung Quốc không phải như Đảng Cộng Sản cáo buộc:

"Từ 1929 đến 1933, Bắc Khải (John Buck) dẫn đầu nhóm nghiên cứu của Đại học Nam Kinh điều tra 168 làng ở 22 tỉnh, thu thập thông tin chi tiết từ hơn 16.000 trang trại, xuất bản tác phẩm 'Sử Dụng Đất Trung Quốc'. Nhìn chung, nó chứng minh rằng nông thôn không tồn tại bất bình đẳng lớn lao, hơn một nửa nông dân sở hữu đất của mình (thường được chia sẻ bởi nhiều người), người thuê đất chỉ chiếm dưới 6% dân số nông thôn."

Giai cấp có thể không tồn tại, nhưng có thể được xây dựng. Đảng Cộng Sản phát động đấu tranh giai cấp, tài liệu nội bộ quy định phải phân loại ít nhất 10% dân số thành "địa chủ" hoặc "phú nông". Các đội công tác đến đâu, liên tục khơi dậy oán hận cũ, cổ vũ bạo lực, động viên người dân chia cắt tài sản của những người giàu có.

Phùng Khách theo dõi một cán bộ Đảng Cộng Sản tên là Kang Sinh, người đã lãnh đạo những cuộc đấu tranh đẫm máu ở Sơn Tây. Các ông địa chủ bị ép quỳ trên những mảnh gạch vỡ, bị dân làng đánh đập, chửi rủa, thậm chí bị tưới phân lên người. Việc dán nhãn địa chủ không cần bằng chứng nào, chỉ cần có người nghèo tố cáo. Ở huyện Hưng, tỉnh Sơn Tây, hơn 2.000 người bị giết, bao gồm 250 người già và 25 trẻ em, bị gán nhãn là "nhỏ địa chủ". Con người có bản năng khát máu, đặc biệt khi bạo lực không bị trừng phạt, sự tham lam và lòng ham muốn quyền lực sẽ không có giới hạn mở rộng, và nỗi sợ hãi bị trả thù sẽ tiếp tục thúc đẩy các phương pháp cực đoan. Phùng Khách chỉ ra rằng trong cải cách ruộng đất, có 500.000 đến 1 triệu người bị giết hoặc tự sát.

Đảng Cộng Sản giỏi trong việc giải phóng những khía cạnh tối tăm của con người. Đấu tranh chỉ dẫn đến đấu tranh, xung đột quyền lực trần trụi chỉ dẫn đến trả thù vì động cơ cá nhân trần trụi. Và những động cơ cá nhân đôi khi không có lý do gì, chỉ là phá hoại đơn thuần.

Khi Cách Mạng Văn Hóa vừa mới bắt đầu, các đội công tác khuyến khích học sinh trẻ tuổi phê phán những "quái vật xấu xa", vì những người này độc quyền văn hóa để áp bức nhân dân lao động. Học sinh đầu tiên tấn công dữ dội những giáo viên từng sỉ nhục họ, những thầy cô từng quở mắng học sinh bị phê phán là "thiếu cảm xúc vô sản, dùng tay sai để áp chế những ý kiến khác nhau" (sách Cách Mạng Văn Hóa, tr. 85). Một số khu vực các đội công tác thậm chí còn lập danh sách những giáo viên đáng ngờ, giao cho học sinh, khiến học sinh tấn công: "Sự thật rõ ràng, hãy xem các em chọn lập trường nào" (sách Cách Mạng Văn Hóa, tr. 85).

Rất nhanh, những giáo viên cũng bắt đầu đấu tranh lẫn nhau để tự bảo vệ, họ bôi nhọ danh dự của nhau, khơi lại những tranh chấp cũ để cáo buộc đối phương cấu kết với yếu tố phản cách mạng; có những giáo viên viết lời tự phê bình, thậm chí đưa ra những lời thú nhận không trung thực để trốn thoát. Bạo lực ngôn từ nhanh chóng chuyển thành bạo lực thể xác, rốt cuộc đấu tranh giai cấp không bao giờ kết thúc. Nhiều người bị cạo đầu "âm dương", đồng thời xuất hiện phương pháp tra tấn mới "ngồi máy bay", những nạn nhân bị ép quỳ chồm hỗm, hai tay bị kéo thẳng ra phía sau. Bạo lực xuất hiện tại các trường trung học khắp nơi, chẳng hạn ở các trường ở tỉnh Phúc Kiến, hàng chục người đã chết hoặc tự sát do bị học sinh tra tấn.

Tôi nhớ lại nhà chính trị học Mỹ Stathis Kalyvas, người nghiên cứu bạo lực chính trị, trong tác phẩm nổi tiếng "Logic của Bạo Lực trong Nội Chiến" (The Logic of Violence in Civil War) của ông chỉ ra rằng những khu vực xảy ra bạo lực nhiều nhất trong nội chiến là những nơi mà sức mạnh của hai bên không cân bằng, hơn nữa, bạo lực thực ra không bị xúc tiến bởi những xung đột (ý thức hệ) của chính nội chiến, mà là từ những oán hận cũ đã sẵn tồn tại giữa nhân dân.

Nói cách khác, khi quốc gia rơi vào hỗn loạn, những oán hận cá nhân vẫy cờ ý thức hệ vây quanh. Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã mở cánh cửa địa ngục, cho phép những ma quỷ trong tâm trí con người tự do lao động, cướp bóc, đốt nhà. Có thể nói Đảng Cộng Sản cưỡi lên những ma quỷ nhỏ này chạy khắp bốn phương, hoàn toàn lật đổ toàn bộ Trung Quốc.

Trong những ma quỷ nhỏ được Đảng Cộng Sản sử dụng, tất nhiên cũng bao gồm những đứa trẻ thực sự, những "em bé" của Cách Mạng Văn Hóa. Khi Cách Mạng Văn Hóa bắt đầu, Mao Trạch Đông nói với bác sĩ của mình, "phải dựa vào những em bé này để nổi loạn, để cách mạng, nếu không sẽ không thể đánh bại những quái vật xấu xa này", học sinh được hưởng đặc quyền, sinh viên đại học, học sinh cấp hai, cấp một không bị kỷ luật hết. Nhưng tất nhiên, như công cụ đấu tranh, khi người trẻ dùng xong thì có thể bỏ cuộc. Chưa đầy hai năm, Hồng vệ binh sụp đổ, học sinh bị buộc phải xuống nông thôn để tiếp nhận giáo dục lại từ nông dân. Tổng cộng có 18 đến 20 triệu học sinh bị đuổi khỏi các thành phố, họ trở thành lao động rẻ mạt ở nông thôn với điều kiện cực kỳ khắc nghiệt, bị tra tấn, rơi vào tình trạng đói lâu dài, bệnh tật, phụ nữ bị bạo lực tình dục, cái chết không tự nhiên liên tục xảy ra.

Đảng Cộng Sản Trung Quốc thao túng đám đông vô cùng xuất sắc để đạt mục tiêu đấu tranh quyền lực; còn thao túng các sinh viên tham gia hành động chính trị lại để lại bóng ma nào cho thế hệ sau? Tôi nhớ lại ở Đài Loan, những cách diễn đạt tương tự không hiếm gặp, mỗi khi có những người trẻ tuổi xuống đường, luôn có dư luận gọi những người làm phong trào sinh viên là "bị Đảng Dân chủ Tiến bộ thao túng". Đọc lịch sử hiện đại của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, tôi bắt đầu hiểu hơn tại sao những khái niệm tương tự cũng vẫn day dứt ở Đài Loan. Đoạn lịch sử này về những người trẻ tuổi bị chế độ sử dụng đã tạo ra nhiều nỗi sợ hãi và ký ức tập thể sâu sắc, lan tỏa vào từ vựng chính trị hiện đại tiếng Trung. Tuy nhiên, Cách Mạng Văn Hóa ở bờ bên kia là do thanh niên trả giá; còn những công dân trẻ tuổi Đài Loan thế kỷ 21, khi bắt tay vào dân chủ của đảo quốc, lại bất ngờ đáp lại đoạn chấn thương tập thể đó, chứng minh rằng sự tham gia chính trị của thanh niên bắt nguồn từ lòng tự độc lập và tự chủ.

Chính trị có hàm lượng rất phong phú, mỗi cộng đồng nếu muốn điều hành cuộc sống chung thì tất yếu phải phát triển những mẫu mực của riêng mình. Hai mươi năm này của Đảng Cộng Sản huy động lực lượng, điều này chắc chắn là một di sản lịch sử tối tăm sâu sắc, khi đã lấp đầy lõi của cuộc sống chính trị bằng thao túng và bạo lực, vì lịch sử Đảng Cộng Sản chẳng qua là một lịch sử của sự thanh trừng.

Trục thứ hai đáng kể của bộ ba phần "Nhân Dân" là kiểm soát, hay chính xác hơn, cách chế độ cộng sản cố gắng tính toán để kiểm soát, nhưng vẫn không thể kiểm soát nhân dân, không thể kiểm soát thị trường, tất nhiên cũng không thể kiểm soát tự nhiên.

Chế độ cộng sản cố gắng kiểm soát thị trường. Phùng Khách dành cả một chương để phân tích cách Đại Nhảy Vọt từ 1958 đến 1962 (và cuộc đói kèm theo) ảnh hưởng đến thương mại nội địa Trung Quốc, kết luận là kinh tế kế hoạch của Đảng Cộng Sản tạo ra phá hoại và thoái lui khổng lồ. Do thiếu thiết bị, linh kiện và nhiên liệu, hệ thống vận chuyển sụp đổ, phân phối dừng hoàn toàn, có rất nhiều hàng hóa không bao giờ rời khỏi cảng, không bao giờ đến ga tàu (sách Đại Đói Đói, tr. 185-186). Sau khi kế hoạch thay thế thị trường, loại sản phẩm sụt giảm mạnh, sự đa dạng của thiết kế cũng biến mất, một chiếc chìa khóa có thể mở được nhiều khóa, nhưng tất cả sản phẩm đều bắt đầu tăng giá.

Tất cả thị trường đều bị dập tắt, thậm chí cả thị trường tái chế rác thải cũng biến mất. Trước Đại Nhảy Vọt, những chiếc vải rách, hộp kim loại, nhựa, giấy đều có thể tìm thấy những người mua tiềm năng, nhưng sau khi nhà nước tiếp quản, nhiều thương nhân tái chế rác rưởi bị ép buộc gia nhập các doanh nghiệp tập thể, trở thành những thành viên chậm chạp và thiếu hiệu quả. Vì vậy, một mặt là những đống rác chồng chất, một mặt lại là hàng hóa sinh hoạt cơ bản cực kỳ khan hiếm (sách Đại Đói Đói, tr. 189-190).

Phùng Khách chỉ ra một cách hơi chế giễu rằng một trong những nghịch lý của kinh tế kế hoạch là ép buộc tất cả mọi người phải tham gia giao dịch hàng hóa. Vì dự báo thiếu hụt hàng hóa và lạm phát sẽ dẫn đến tăng giá, mọi người thường cố gắng tích trữ lượng hàng hóa tối đa có thể.

Chế độ cộng sản cũng cố gắng kiểm soát tự nhiên. Mao Trạch Đông tin rằng con người và tự nhiên là đối lập, con người phải liên tục đấu tranh chống lại tự nhiên và cuối cùng chinh phục nó. Đây là một dạng duy ý chí "con người nhất định thắng thiên", tin rằng sức mạnh của quần chúng cách mạng là vô hạn, có thể hoàn toàn thay đổi điều kiện vật chất, thực hiện chủ nghĩa cộng sản (sách Đại Đói Đói, tr. 207).

Tuy nhiên, giống như những tham vọng khác của Mao Trạch Đông, bắt đầu từ ý định kiểm soát, kết quả lại là phá hoại. Hàng chục nghìn hecta rừng bị chặt phá, khai thác không hợp lý, để luyện thép hoặc tiến hành những dự án sản xuất chẳng bao giờ có kết quả. Hoạt động loài người ở mức độ cao dẫn đến những vụ cháy lớn, do đó nhiều trạm lâm nghiệp bị hủy diệt bởi lửa, thậm chí có chuyên gia chỉ rằng 80% rừng cả nước biến mất (sách Đại Đói Đói, tr. 211). Tưới tiêu vô lý và các công trình thủy lợi, cộng với thực vật bị mất, làm cho khả năng ứng phó với mưa lớn hoặc bão ở khắp mọi nơi biến mất hoàn toàn. Đất bị mặn hóa, không khí và nước đều bị ô nhiễm bởi chất thải hóa học.

Điều làm cho người ta sửng sốt nhất là trong Đại Nhảy Vọt còn có một phong trào diệt chim sẻ quy mô lớn. Chim sẻ ăn hạt lúa, cướp phí thành quả lao động của nhân dân, vì vậy tội chết. Phùng Khách ghi lại rằng ở Nam Kinh chỉ trong hai ngày đã tiêu tốn khoảng 330 kilogam thuốc súng, cho thấy quy mô tiêu diệt chim sẻ lớn như thế nào. Nhưng khi chim sẻ bị tiêu diệt đại trà, ai sẽ ăn côn trùng? Vài năm sau, tình hình dịch hại côn trùng ở khắp nơi trở nên ngày càng nghiêm trọng, đáng sợ nhất là cào cào. Năm 1961, Hồ Bắc bị cào cào ăn mất hơn 13.000 hecta, các vùng Kinh Châu, Nghi Xương thiệt hại nặng nề, toàn tỉnh khoảng 15% ruộng lúa bị hư hại. Năm 1960, các khu vực xung quanh Nam Kinh và tỉnh Chiết Giang cũng bị tổn thất lớn về sản xuất nông sản do dịch hại.

Nông nghiệp phụ thuộc vào thiên thời, logic sản xuất là tuân theo tự nhiên, thích ứng với địa phương. Nếu con người muốn thay đổi quy luật này quy mô lớn, phần lớn sẽ thất bại hoặc gặp khó khăn lớn. Khái niệm đối lập của kiểm soát là tin tưởng. Giữa thiên và người, giữa chính trị và kinh tế, cũng như giữa những người nắm quyền và nhân dân, thực ra là một mối quan hệ đối tác cùng có lợi. Thiếu tin tưởng, không thể hòa bình, thì không thể tạo ra thời đại thịnh vượng.

Cuối cùng, còn một lý do khiến độc giả nên dành thời gian và công sức để tận hưởng cuốn sách này. Cuốn sách của Phùng Khách giống như con người ông, mặc dù có kiến thức sâu rộng, nghiên cứu công phu, nhưng rốt cuộc lại có một chút hài hước dí dỏm.

Tôi từng may mắn được phỏng vấn Phùng Khách, ông nói về lịch sử của các độc tài thế kỷ 20: "Khi tôi đọc lại bản thảo, tôi không thể nhịn được cười khẽ, tất nhiên, tất cả những gì xảy ra đều khủng khiếp, nhưng bạn (khi viết) phải thể hiện một loại vô lý hoàn toàn." Trong bộ ba phần Trung Quốc, những chi tiết lịch sử vô lý đến mức hài hước xuất hiện khắp nơi.

Ví dụ, trong đói kém, chợ đen ngược lại phát triển mạnh mẽ, nhưng không ai tin vào tiền được chính phủ phát hành, mọi người chỉ tin vào những hàng hóa có thể cầm tay, ăn vào bụng. Vì vậy, ở Thẩm Dương, bánh hấp trở thành một loại tiền tệ phổ biến nhất.

"Những chiếc bánh hấp của quán này thường được dùng để trao đổi với các ống thép, xi măng và gạch xây dựng [...] cũng thường dùng để đổi với các công ty cung cấp nhà nước. Chẳng hạn như Công ty Thủy Sản Thẩm Dương trong tình hình thiếu hụt nguồn hàng nghiêm trọng, đã chuyển toàn bộ tôm dự kiến cung cấp cho thị trường ngoại ô cho quán bánh hấp này, và quán bánh hấp lại dùng bánh hấp để trao đổi. Nhiều cán bộ các đơn vị cầm phiếu bánh hấp đến các cửa hàng bách hóa lớn nhất Thẩm Dương để mua sắm thoả thích. Có những người dùng phiếu bánh hấp để hối lộ cảnh sát giao thông địa phương và lực lượng cứu hỏa, thậm chí cả việc giao than, cung cấp nước, vệ sinh nhà vệ sinh, tất cả các dịch vụ đều được trao đổi bằng phiếu bánh hấp theo tỷ lệ bằng nhau (sách Đại Đói Đói, tr. 233).

Câu chuyện này cho chúng tôi biết rằng không ai có thể ngăn cản người Đông Bắc ăn bánh hấp. Thậm chí cả Đảng Cộng Sản cũng chẳng có gì có thể làm.

Một ví dụ khác, trong Cách Mạng Văn Hóa, Hồng vệ binh đột kích để loại bỏ tất cả những gì liên quan đến lực lượng cũ và tư sản, từ kiến trúc, nội thất, sách vở, đồ cổ châu báu, thậm chí cả cửa hàng hoa, thú cưng, chẳng có gì được bỏ lại, thậm chí ngay cả những chú mèo cũng bị coi là "biểu tượng sụp đổ của giai cấp tư sản"! Việc giết mèo thành trào lưu, "cuối tháng 8, những người đi bộ trên đường phố Bắc Kinh đều có thể nhìn thấy những chú mèo chết nằm ở lề đường với hai chân trước bị buộc lại với nhau" (sách Cách Mạng Văn Hóa, tr. 111).

Những chú mèo vô tội biết bao! Tôi, giống như hàng triệu công dân trẻ tuổi thuộc phe Đài Loan, đã từ lâu tự nguyện trở thành những tay nô lệ mèo không có gì phàn nàn; đọc đến đây, không thể không cảm thấy vừa kinh hãi vừa buồn cười. Vội vàng đi ôm những biểu tượng sụp đổ của giai cấp tư sản ở nhà tôi một lần.

Bộ ba phần "Nhân Dân" được tán dương nhất vì hai điểm sau: chi tiết xuất sắc và góc nhìn của nhân dân. Điểm đầu tiên không cần phải nói thêm, bất kỳ độc giả nào mở cuốn sách này cũng sẽ rõ ràng cảm nhận được sức mạnh nghiên cứu tài liệu sâu sắc của Phùng Khách. Nhưng điểm thứ hai, chính là lý do khiến cuốn sách này xứng đáng cho công dân bình thường mua.

Cuốn sách này cuối cùng không được viết cho các vị vua hay các học giả trong tháp ngà; cuốn sách này được viết để trình bày những câu chuyện của người dân Trung Quốc. Dưới bối cảnh lịch sử lớn của hơn hai mươi năm, cách những gì bị khuấy động, lật đổ, chịu đựng, ghi chép những trải nghiệm và chiến lược thực tế của mọi người. Tôi đặc biệt ấn tượng với cách Phùng Khách tinh tế và trung thực thể hiện những mối quan hệ xã hội giữa người và người giữa những luồng bạo lực áp đảo này. Những sinh viên xuống nông thôn chịu công việc lao động có cường độ cực cao, suốt mùa đông dài họ sống sót bằng cách trao đổi sách vở; "Cha thân mẹ thân còn kém Chủ tịch Mao thân", nhưng những thanh niên tự phê bình cha mẹ để tỏ lòng trung thành với Đảng là số ít, thường là họ cắt đứt liên hệ với gia đình chứ không thực sự giết cha giết mẹ. Đây là bản chất sâu sắc của Trung Quốc, chế độ có thể phá hủy nhưng không thể xóa sổ được.

Đối với độc giả Đài Loan, ba tác phẩm này là những viên gạch vào lối rất tuyệt vời. Không chỉ để hiểu lịch sử Trung Quốc hiện đại, nhận thức những quá khứ quan trọng của Đảng Cộng Sản, mà còn có thể thu được sự rửa tội kiến thức cấp thế giới, sau khi đọc Trung Quốc của Phùng Khách, tầm nhìn sáng tỏ hơn, tầm nhìn nâng cao hơn. Đối với những tin giả về Trung Quốc được sản xuất vô cẩn, không chỉ khó có thể tin tưởng, mà còn tự mình ngao ngán, "xin bạn cho tôi một kẻ thù tốt hơn một chút".

Mở rộng đọc:

Vượt qua bốn lục địa, tám độc tài và sự theo đuổi phổ quát của họ: "Đường Sống của Kẻ Độc Tài"

Liên Kinh Xuất Bản "Bộ Ba Phần Nhân Dân": "Giải Phóng của Bi Kịch", "Đại Đói Đói của Mao Trạch Đông", "Cách Mạng Văn Hóa"

Mua cuốn sách này

Những tác phẩm cổ điển về thời đại của nhà sử học Trung Quốc đương đại Phùng Khách: Bộ Ba Phần Nhân Dân

Những tác phẩm có uy thế viết lại lịch sử hiện đại Trung Quốc, cuốn sách không thể không đọc để hiểu lịch sử thế kỷ 20 của Trung Quốc

Ghi chép lịch sử kinh hoàng dưới sự cai trị của chế độ độc tài, những sự thật tàn nhẫn mà Đảng Cộng Sản Trung Quốc không sẵn lòng công khai, tác phẩm quan trọng phát ngôn cho nhân dân Trung Quốc đương đại

Bộ Ba Phần Thứ Nhất: "Giải Phóng của Bi Kịch: Lịch Sử Cách Mạng Trung Quốc 1945-1957"

Bộ Ba Phần Thứ Hai: "Đại Đói Đói của Mao Trạch Đông: Lịch Sử Thảm Họa Trung Quốc 1958-1962"

Bộ Ba Phần Thứ Ba: "Cách Mạng Văn Hóa: Lịch Sử Nhân Dân 1962-1976"