Chào mừng đến với thời đại thiếu nước lớn
2020 là năm khô hạn nhất của Đài Loan trong nửa thế kỷ qua.
Không chỉ vì đại dịch COVID-19 hoành hành, khiến nhiều người phải bỏ dở kế hoạch đi du lịch, du học hay làm việc ở nước ngoài, thời tiết cũng trở nên vô cùng bất thường. Mặc dù cư dân mạng Đài Loan thường đùa vui rằng dãy Trung Tây "sát thủ lốc xoáy" đã nổi tiếng tới mức "không chiến mà khuất", nhưng sự vắng mặt của lốc xoáy mang theo những hệ quả far lớn hơn chỉ việc mất thêm vài ngày nghỉ. Hệ quả trực tiếp nhất là lượng nước ở Đài Loan giảm đáng kể. Không chỉ mưa hè từ lốc xoáy, năm nay Đài Loan thậm chí còn không có mưa xuân, mưa hè, khiến đảo quốc rơi vào tình trạng hạn chế sử dụng nước chưa từng thấy.
Theo thống kê của Cục Khí tượng, lượng mưa năm 2020 đã phá vỡ kỷ lục thấp nhất của Đài Loan trong 52 năm qua, trong khi đó lượng nước chứa trong các hồ chứa tại miền Trung và miền Nam gần như cạn kiệt, kéo dài một thời gian dài trong tình trạng thiếu nước trữ lượng. Đến năm 2021, tình huống không những chưa được cải thiện mà còn trở nên tồi tệ hơn. Không chỉ các hồ chứa cạn nước, cả những hồ nổi tiếng như Nhật NguyệtĐàm vàLàmsángtỏHồ cũng cạn khô đến mức lộ ra đáy hồ, trở thành điểm chụp hình "check-in" của đông đảo du khách với những cảnh quang cảnh "đồng cỏ Nhật Nguyệt" và "bãi cátLàmsángtỏ".
Điều này rõ ràng là "bất thường", phải không? Có thể từ góc độ của chúng ta, đây chỉ là một "tìnhcờ" hiếm hoi. Nhưng nếu so sánh các dữ liệu khí tượng và làm rõ bối cảnh, chúng ta sẽ thấy rằng những biến đổi khí hậu kéo dài một năm này ở Đài Loan và tình trạng thiếu hụt tài nguyên nước thực chất đều có dấu vết có thể lần theo.
Từng bước hướng tới sự cạn kiệt: Những ác nghiệp lịch sử chung
"Nóng lên toàn cầu" đã là vấn đề môi trường mà ai cũng biết vào thế kỷ 21. Nhiệt độ tăng từng năm, dẫn đến sự tan chảy của băng ở các cực, mực nước biển dâng cao - đây là những thông tin chúng ta thường xuyên thấy trong các phương tiện truyền thông. Nhưng đối với những người dân bình thường không có kiến thức chuyên môn, rất khó để họ phát hiện ra những cảnh báo nằm "dưới mặt nước". Nước chiếm hơn 70% bề mặt Trái Đất, không chỉ là nôi nơi của sự sống mà còn là chìa khóa duy trì các hệ sinh thái trên đất liền. Từ quá trình trao đổi chất trong sinh vật đến việc điều chỉnh nhiệt độ bề mặt địa cầu, tất cả đều tùy thuộc vào chu kỳ nước vô tận. Tuy nhiên, mọi sự vật đều cần có sự "cân bằng". Nước có thể nâng con tàu nhưng cũng có thể lật nó, cuộc sống của chúng ta không thể tách rời nước, nhưng chúng ta cũng không thể sống hoàn toàn trong nước.
Tuy nhiên, sự cân bằng này đã bị con người phá hủy gần như hoàn toàn chỉ trong vài trăm năm.
Cuộc Cách mạng Công nghiệp đã trao cho con người khả năng cạnh tranh và chiếm lĩnh tài nguyên từ thiên nhiên, đồng thời vô hạn định nuôi dưỡng cơn thèm ăn của chúng ta, dẫn đến nóng lên toàn cầu, các hệ sinh thái lâm nguy, tất cả đều là những "ác nghiệp" mà chính con người tạo ra. Từ cuối thế kỷ 20, Liên Hợp Quốc đã tổ chức nhiều hội nghị về biến đổi khí hậu. Vào thế kỷ này, Liên Hợp Quốc liên tiếp thúc đẩy các Mục tiêu Phát triển Bền vững như MDGs và SDGs, trong đó đều bao gồm cách "bảo vệ", "phân bổ" và "sử dụng" hiệu quả tài nguyên nước hạn chế, cũng như thúc đẩy ra đời Tổ chức Nước của Liên Hợp Quốc (UN-Water).
Tổ chức Nước của Liên Hợp Quốc (UN-Water)
Là bên thứ ba độc lập với các chính phủ quốc gia, Tổ chức Nước chịu trách nhiệm điều phối chính sách quốc gia, theo dõi tình hình thủy lợi ở các vùng, đồng thời tài trợ cho các dự án nghiên cứu có tiềm năng phát triển. Theo báo cáo quan sát của Tổ chức Nước của Liên Hợp Quốc, môi trường thủy lợi của Trái Đất hiện đang ở thời kỳ tới hạn. Biến đổi khí hậu dài hạn ảnh hưởng nghiêm trọng đến lượng mưa, nhiều vùng báo cáo về hạn hán cực độ, sóng nhiệt, thậm chí còn lũ lụt bất ngờ. Năm 2021, Đài Loan cũng vì mưa liên tiếp không rơi mà các hồ chứa thiếu nước, tạm thời nước dùng dân sinh bị thiếu hụt, khiến nhiều người phàn nàn.
Ngoài những thay đổi khí hậu tự nhiên, ô nhiễm tài nguyên nước bề mặt do con người gây ra cũng là một vấn đề lớn. Khi xã hội phát triển, các ngành công nghiệp nặng, nhẹ và công nghệ cao phụ thuộc ngày càng nhiều vào nước, khiến các chất có hại chảy vào hệ thống nước.
Những xáo trộn do con người gây ra khiến lượng nước sạch trên bề mặt đất giảm từng năm, tác động xấu đến các hệ sinh thái tự nhiên cũng làm giảm chất lượng cuộc sống của chính con người. Đặc biệt là ở các vùng nghèo không có khả năng hoặc tài nguyên để xây dựng nhà máy nước sạch, thậm chí thiếu cơ sở hạ tầng thủy lợi cơ bản, thì ngay cả việc duy trì nhu cầu nước uống hàng ngày và vệ sinh cá nhân cũng rất khó khăn. Trong đại dịch COVID-19, nhiều quốc gia thế giới thứ ba rơi vào tình huống không thể rửa tay, vệ sinh các thiết bị, khiến virus tiếp tục lây lan trong điều kiện vệ sinh tồi tệ, càng làm suy yếu thêm hệ thống y tế đã sẵn yếu ớt của địa phương. Thậm chí một nước mạnh như Ấn Độ cũng vì phân bổ tài nguyên nước không đều khiến công tác vệ sinh y tế khó khăn, dẫn đến đại dịch bùng phát lần lần.
Còn Đài Loan thì sao? Mặc dù không gặp phải những vấn đề lớn nêu trên, nhưng hòn đảo nhỏ này cũng có những hạn chế bẩm sinh riêng, suốt một thế kỷ qua đã vì thiếu nước mà phải chịu đủ đắng.
Đài Loan: Số phận thiếu nước
Mặc dù Đài Loan là một hòn đảo tươi đẹp với tài nguyên sinh thái dồi dào, nhưng về mặt "nước" thì thực sự không có quá nhiều lợi thế đáng tự hào.
Theo thống kê của Cục Thủy lợi, lượng mưa bình quân hàng năm của Đài Loan là 2.500 mm, gấp 2,6 lần giá trị trung bình thế giới. Tuy nhiên, khi chia cho dân số Đài Loan, lượng mưa bình quân đầu người chỉ bằng 1/5 giá trị trung bình thế giới, và thậm chí được chỉ số Hiệu suất Môi trường đánh giá là "quốc gia thiếu nước" xếp hạng 18 trên thế giới. Có phải khó tưởng tượng không? Hòn đảo này hàng năm có lốc xoáy, thỉnh thoảng lại ngập nước, nhưng từ góc độ bên ngoài lại là một "vùng đất khô cằn về tài nguyên nước"?
Lý do nằm ở địa hình của Đài Loan.
Đất Đài Loan hẹp và dài, dưới sự ép của các mảng Á-Âu và Thái Bình Dương, hình thành các dãy núi hướng Bắc-Nam đặc trưng. Dãy núi Tuyết Sơn, Trung Tây, Ngọc Sơn, A Lý Sơn và Ven biển tập trung xếp hàng, là cảnh quan thiên nhiên mà chúng ta tự hào. Tuy nhiên, điều này cũng có nghĩa là Đài Loan có núi cao nhưng sông ngắn, đất hẹp nhân đông, không có đủ đất để giữ lại nước mưa. Ngay cả các sông lớn như Nước Đục, Nước Từng Văn, Nước Đại Giáp cũng có lưu vực hạn chế, không đủ cung cấp cho dân cư địa phương. Từ thời kỳ Thanh và Nhật trị, người ta đã xây dựng nhiều kênh thủy lợi và hồ chứa, chính là để bù đắp những hạn chế bẩm sinh này, nhằm thực hiện điều kiện sống cơ bản "mọi người đều có nước dùng".
Nhưng Đài Loan cũng chỉ có kích thước như vậy, địa điểm thích hợp để xây dựng hồ chứa núi cao không nhiều, và lượng nước có thể dự trữ cũng bị hạn chế bởi chính con sông. Hồ chứa Đài Loan trung bình chỉ cung cấp 23,5% lưu lượng nước từ sông suối, điều này có nghĩa là phần lớn nước mưa không kịp được tận dụng tốt đã chảy ra biển. Thêm vào đó, vấn đề bồi lắng ngày càng nghiêm trọng không ngừng xâm ăn dung tích hữu hiệu của hồ chứa, hoàn toàn không bắt kịp lượng nước dùng bình quân đầu người tăng từng năm.
Có thể bạn sẽ tò mò, nếu hiệu suất hồ chứa núi cao không lý tưởng, thì tại sao lúc đầu lại phải xây? Lý do là vì lượng mưa ở Đài Loan phân bổ cực kỳ không đều, đặc biệt là ở miền Trung-Nam, gần 80% lượng mưa hàng năm đổ xuống trong mùa hè-thu lúc nước dồi dào, thời gian còn lại chỉ có thể dựa vào hồ chứa cung cấp. Thêm vào đó, chỉ có 5% lượng mưa hàng năm ở Đài Loan được đất hấp thụ, sông suối lại do địa thế dốc có tốc độ dòng chảy quá nhanh, gây tràn bờ hạ lưu và mất đất nhiều. Xây dựng hồ chứa lúc bấy giờ có thể đồng thời giải quyết hai vấn đề lớn "trữ nước" và "quản lý nước", nên không phải hoàn toàn vô nghĩa.
Tuy nhiên, hồ chứa cuối cùng không phải là giải pháp tối ưu cho vấn đề quản lý nước của Đài Loan. Nhiều bất cập lúc bấy giờ chưa được nhìn thấy, nhưng tất cả đều lần lượt bộc lộ dưới tác động của biến đổi khí hậu.
Ở giai đoạn đầu, Đài Loan không đủ chú trọng đến vấn đề ô nhiễm, không kịp thực hiện các công trình liên quan, khiến lượng lớn nước thải công nghiệp và dân sinh được thải trực tiếp vào sông suối và hệ thống cống, gây ô nhiễm nặng nề cho chu kỳ nước. Cho đến năm 2019, tỷ lệ xử lý nước thải Đài Loan chỉ có 61,67%, thậm chí đến nay vẫn thỉnh thoảng phát hiện tin tức về các nhà máy thải nước thải trái phép, cho thấy hiệu quả kiểm soát ô nhiễm nước chưa đạt yêu cầu. Đã vốn dĩ suy yếu bẩm sinh, lại bị con người phá hủy gây suy yếu hậu thiên, điều này khiến vấn đề tài nguyên nước trở thành trở ngại lớn nhất trên con đường phát triển bền vững của Đài Loan.
Làm sao để tái nuôi dưỡng Đài Loan?
Cuộc khủng hoảng tài nguyên nước của Đài Loan có nguyên nhân sâu xa, chúng ta không chỉ phải vượt qua những hạn chế bẩm sinh, mà còn phải tìm thấy một lối sống mới để thoát khỏi những ràng buộc của khuôn khổ hiện tại. Nói cách khác, chúng ta không chỉ phải "mở rộng nguồn" mà còn phải "tiết giảm chi phí", nếu không dễ rơi vào tình huống thụ động như trước.
Về phía phát triển nguồn nước mới, Singapore và Israel, cùng gặp vấn đề hạn hán, đã sử dụng phương pháp như khử mặn nước biển và tái chế nước thải để giảm nhẹ tình trạng thiếu hụt tài nguyên nước trong nước. Đặc biệt là nhà máy "Nước mới sinh" (NEWater) của Singapore có khả năng đáp ứng 40% nhu cầu sử dụng nước trong nước, đáng kể nâng cao hiệu suất sử dụng tài nguyên nước trong nước. "Nước mới sinh" không phải là một chiêu trò đơn thuần. Để tối đa hóa việc sử dụng tài nguyên nước thải trong nước, Singapore đã tổng hợp hệ thống nước thải toàn quốc, đảm bảo tất cả nước thải dân sinh và công nghiệp cuối cùng đều tập trung về nhà máy xử lý. Sau khi xử lý theo quy trình tiêu chuẩn quốc tế xử lý nước thải, nước được chuyển tới nhà máy tái chế để lọc, khử trùng bằng tia cực tím và điều chỉnh độ pH, cuối cùng trở thành nước mới sinh có thể được dân cư và công nghiệp sử dụng.
Nếu Đài Loan muốn thực hiện công việc tái chế nước thải tương tự Singapore, công việc cấp bách là phải tổng hợp lại cơ sở hạ tầng nước thải hiện tại, đảm bảo nước thải công nghiệp và dân sinh không còn chảy vào sông suối hoặc nước ngầm. Chỉ khi tách hoàn toàn hệ thống dòng chảy bề mặt và sưu tầm nước thải, chúng ta mới có cơ hội thực hiện "tái chế nước thải" thực sự, giảm nhẹ tác động hủy hoại môi trường tự nhiên do hoạt động con người gây ra. Ngoài tái chế nước thải, kỹ thuật "mở rộng nguồn" phổ biến khác là khử mặn nước biển. Theo tên gọi, đây là một quy trình chuyển đổi nước mặn của đại dương thành nước ngọt để sử dụng, cũng là một lựa chọn mà các quốc gia ven biển cần phải cân nhắc. Tuy nhiên, dù là Đài Loan hay Israel và Singapore đã phát triển tài nguyên nước hơn chúng ta, đều khó tránh khỏi vấn đề "giá thặng dư xanh" (Green premium) trong quá trình khử mặn nước biển.
Nói một cách thẳng thắn, đó là "giá trị không đáng giá".
Công nghệ khử mặn nước biển phổ biến nhất trên thế giới hiện nay là "thẩm thấu ngược" và "bay hơi nhấp nháy nhiều cấp", cả hai đều cần lượng năng lượng lớn hỗ trợ, nước muối độ mặn cao phát sinh sau này cũng cần thiết bị chuyên dụng xử lý, nếu thải vào environment một cách tùy tiện sẽ gây ra khủng hoảng sinh thái mới. Lấy Đài Loan làm ví dụ, dù bờ biển có 22 nhà máy khử mặn nước biển, nhưng chi phí sản xuất mỗi độ nước ngọt vẫn lên tới 30-40 nhân dân tệ. Ở các vùng đảo xa xôi như Mã Tổ, chi phí sản xuất nước còn cao tới con số kinh ngạc là 80 nhân dân tệ mỗi độ, phải dựa vào chính phủ trợ cấp mới có thể ép giá nước xuống mức mà nhân dân có thể chi trả. Để sử dụng khử mặn nước biển hiệu quả hơn, chúng ta phải cải tiến công nghệ hiện tại, tăng lượng nước ngọt sản xuất trên mỗi đơn vị năng lượng, nếu không không chỉ khó đạt được vận hành bền vững mà còn có thể làm sụp đổ tài nguyên năng lượng quý giá cũng được hình thành khó khăn.
Làm sao để giữ lại nước?
Nói xong "mở rộng nguồn", tiếp theo là "tiết giảm chi phí". Phần này đặc biệt quan trọng đối với Đài Loan, bởi lý do chủ yếu khiến chúng ta dễ bị lũ lụt chính là lý do chúng ta "không giữ được nước" từ vốn dĩ. Đặc biệt là sau khi dân số tăng vọt, chính phủ và nhân dân đã quy mô rộng lớn lấp sông tạo đất, xâm lược các vùng đất bị ngập lũ ban đầu thuộc về sông suối, những công trình này đều phá hủy khả năng giữ nước của đất dưới chân chúng ta. Mỗi khi mưa lớn, Đài Loan vốn dĩ suy yếu lại tiếp tục suy yếu hơn nữa, dễ dàng bị ngập, trở thành một vòng lẩn quẩn nhân quả.
Nhưng đừng vội bi quan, Đài Loan thực ra đã có những kết quả khá trong lĩnh vực này. Chẳng hạn, hồ điều chỉnh Trung Trang khởi động năm 2017 chính là một cải tiến so với thiết kế hồ chứa núi cao truyền thống, xây dựng một hồ nhân tạo dạng bề mặt bằng phẳng, chịu trách nhiệm hỗ trợ hồ chứa Thạch Môn cung cấp nước dân sinh cho Đào Viên và một phần thành phố Tân Bắc. Dù hiện tại chỉ đóng vai trò dự phòng, hồ điều chỉnh Trung Trang bình thường cũng mang lại giá trị thêm như xây dựng không gian xanh, cung cấp du lịch.
Ngoài ra, phát triển hệ thống sưu tầm nước mưa cũng giúp nâng cao việc sử dụng nước mưa ở các khu vực đô thị. Ngay cả khi dân cư bình thường không có khả năng chi trả cho các thiết bị lọc nước cao cấp, nước mưa sưu tầm cũng có thể dùng làm nguồn nước thay thế cho các mục đích không phải uống, giảm tải cho hệ thống thủy lợi từ nhu cầu nước dân sinh. Ngoài nước mưa, những năm gần đây còn có các công ty công nghệ phát triển máy uống nước sử dụng công nghệ thẩm thấu ngược để chuyển đổi nước từ máy hút ẩm thành nước có thể uống. Nếu có thể phát triển kỹ thuật sưu tầm thành thục, giảm chi phí sản xuất nước, nâng cao hiệu suất sản xuất, đây cũng sẽ là một cột mốc công nghệ có khả năng thay đổi lối sống hiện tại của con người. Tất nhiên, những gì đã nêu trên đều là những phần do con người xây dựng. Nhưng nếu thực sự từ góc độ "phát triển bền vững", việc đưa vấn đề tài nguyên nước quay trở lại tự nhiên mới là cách làm lý tưởng nhất.
Ví dụ như, Amsterdam có vấn đề lũ lụt nghiêm trọng, đã đề xướng "trả lại đất cho sông" đã có một thời gian, co rút ranh giới sinh hoạt con người, cho sông suối khoảng không hoạt động xứng đáng. Đài Loan mặc dù đất hẹp nhân đông, nhưng cũng không phải không có dư địa để hòa hợp với tự nhiên. Giảm lượng phát thải carbon hàng ngày, tích cực mở rộng diện tích phủ thực vật rừng núi, đây đều là những việc chúng ta có thể làm và phải làm. Thiếu nước ở Đài Loan là sự thật không thể thay đổi, nhưng nguyên nhân chính khiến người Đài Loan "không có nước dùng" thực ra là chính chúng ta. Nhìn rõ tình huống hiện tại và xây dựng chiến lược tận tâm, đó mới là con đường lâu dài của phát triển bền vững.
Bài viết được sản xuất chung bởi Ban biên tập StoryStudio Chuyện xưa và Bayer Pharma.
![[SDGs] Bể chứa đầy nước có yên tâm được không? Cuộc khủng hoảng thiếu nước của Đài Loan dưới tác động của biến đổi khí hậu](/_next/image?url=https%3A%2F%2Fstorystudio.tw%2Fstorage%2Fupload%2Farticle%2F2021%2F08%2F%E3%80%90SDGs%E3%80%91%E6%B0%B4%E5%BA%AB%E8%A3%9D%E6%BB%BF%E6%B0%B4%E5%B0%B1%E5%8F%AF%E4%BB%A5%E5%AE%89%E5%BF%83%E4%BA%86%E5%97%8E%EF%BC%9F%E6%B0%A3%E5%80%99%E8%AE%8A%E9%81%B7%E4%B8%8B%E7%9A%84%E8%87%BA%E7%81%A3%E7%BC%BA%E6%B0%B4%E5%8D%B1%E6%A9%9F-01.jpg&w=3840&q=75)


