Để tài trợ cho phát triển công nghiệp, Stalin đã hy sinh nông nghiệp bằng cách áp dụng các chính sách thu lượm mang tính trừng phạt đối với nông dân, bóc lột sạch tài sản của họ. Mao thì tìm kiếm một con đường mới để thay thế mô hình Liên Xô. Ông dự định đưa công nghiệp vào nông thôn, thông qua các phát minh công nghệ rẻ tiền và những cách làm thô sơ của nông dân, mà không cần phải đầu tư số vốn lớn, ông sẽ nhanh chóng tăng sản lượng công nghiệp nông thôn, và sự tăng sản lượng công nghiệp này lại sẽ thúc đẩy nông dân hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế cao hơn. Theo cách này, mà không cần vốn nước ngoài, Trung Quốc có thể chuyển từ một xã hội nông nghiệp lạc hậu thành một quốc gia công nghiệp hóa hiện đại. Mao đã phê bình gay gắt các chuyên gia tư sản, gọi họ là những kẻ theo chủ nghĩa bảo thủ. So với các lời khuyên của các chuyên gia, ông ưa chuộng hơn là kinh nghiệm hàng ngày của nông dân thường dân.

Thái độ của Mao nhận được sự hưởng ứng từ các lãnh đạo ở khắp nơi. Tạ Phú Trị, Bí thư thứ nhất Tỉnh ủy Vân Nam, thậm chí còn công khai chế nhạo các chuyên gia địa chất của Liên Xô, ông ủng hộ việc khi xây dựng công trình thuỷ lợi hãy tin tưởng vào trí tuệ của quần chúng hơn là lắng nghe ý kiến của các chuyên gia. Các lãnh đạo Trung Quốc tin rằng họ không cần sự giúp đỡ của các chuyên gia nước ngoài, chỉ dựa vào trực giác và những cách làm thô sơ của nông dân, cùng với những phát minh rẻ tiền và hiệu quả, họ có thể thực hiện cơ giới hóa nông nghiệp và cuối cùng sẽ vượt qua Liên Xô. Sau khi đọc một báo cáo về việc công nhân tự mình tìm cách chế tạo được một chiếc máy kéo, Mao đã chỉ thị rằng: "Kẻ hèn mọn là người khôn ngoan nhất, kẻ quý tộc là người ngu xuẩn nhất."

Tạ Phú Trị từng trích dẫn lời của Mao nói rằng: "Chúng ta có phải là thầntiên không? Chúng ta là thầntiên, có thể là thầntiên loại thứ nhất, cũng có thể là thầntiên loại thứ hai. Có thể ở những hành tinh khác có những người cao minh hơn chúng ta, thì chúng ta là loại thứ hai; nếu chúng ta cao minh hơn họ, thì chúng ta là loại thứ nhất."

Đảng bắt đầu liên tiếp quảng bá các công nhân điển hình qua tuyên truyền. Hà Định, một nông dân nghèo ở Hà Nam chưa từng đi học, được cho rằng đã phát minh ra một loại thiết bị vận chuyển bằng gỗ dùng trong các công trường thuỷ lợi, có thể tự động hoàn thành công việc vận chuyển và tải xuống đất bằng cáp treo từ trên cao, từ đó nâng cao hiệu suất lao động gấp tám lần. Ngoài ra còn có các phát minh khác như dây chuyền vận chuyển bằng gỗ, máy tách lúa bằng gỗ, máy gieo hạt bằng gỗ v.v., những phát minh này đều được báo chí của Đảng ca tụng là những kỳ tích do quần chúng thường dân sáng tạo ra. Ở Tây Bắc Trung Quốc, thậm chí còn có những nông dân mò mẫm cách chế tạo ô tô và đầu máy xe lửa từ gỗ.

Thực tế, phần lớn những phát minh này không có giá trị gì cả, mà còn gây lãng phí tài nguyên lớn. Ở công xã Điêu Phường, tỉnh Quảng Đông, để thực hiện cơ giới hóa nông nghiệp, trong một đêm, khoảng hai mươi hai nghìn dầm nhà, cột trụ và sàn gỗ đã bị tháo dỡ từ các ngôi nhà của nông dân, nhưng những chiếc xe được chế tạo ra hoàn toàn không bền vững, chỉ cần đẩy một chút là tơi tả.

Tuy nhiên, biểu tượng của mức độ công nghiệp hóa không phải là những dụng cụ bằng gỗ này, mà là thép – loại kim loại cứng chắc và sáng bóng này được coi là biểu tượng của chủ nghĩa xã hội, đại diện cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa và giai cấp công nhân. Trong tuyên truyền của Đảng Cộng sản, "Stalin" từng được miêu tả là có ý chí bằng thép, có thể nghiền nát mọi kẻ thù của cách mạng. Cảnh tượng huy hoàng của nền hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa thường được vẽ lên như những khối hình ảnh của những ống khói khói lửa bốc lên, những máy móc grembling vang vang, những tiếng còi nhà máy rít lên, và những ngọn lửa đỏ rực trong những lò cao to lớn. Nhà thơ gốc công nhân Gastev đã viết:

"Chúng tôi lớn lên trong thép."

Sự kết hợp giữa con người và thép tuyên bố sự đến của một kỷ nguyên mới: máy móc trở thành con người, con người chính là máy móc, thép trở thành nguyên liệu quan trọng nhất để sinh ra các kỳ tích của chủ nghĩa xã hội. Chính vì lý do này, sự mê mẩn của các quốc gia xã hội chủ nghĩa với sản lượng thép đã đạt đến mức độ mê tín, trong khi sản xuất thép lại đã rút gọn tất cả các hành động phức tạp của con người thành những con số, làm biểu tượng cho mức độ tiến hóa về văn hóa của một quốc gia.

Mao có lẽ không phải là chuyên gia về công nghiệp, nhưng ông dường như biết rõ sản lượng thép của từng quốc gia. Ông đã bị mê hoặc đến vậy bởi sản lượng thép đến nỗi mục tiêu vượt qua Anh Quốc dần dần bị rút gọn thành vượt qua Anh Quốc về sản lượng thép. Dưới sự thúc giục của Mao, các chỉ tiêu sản xuất thép của toàn quốc liên tục tăng lên. Năm 1957 là 5,35 triệu tấn, vào tháng 2 năm 1958, sản lượng thép cả năm được định là 6,2 triệu tấn, đến tháng 5 tăng lên 8,5 triệu tấn, đến tháng 6 chính Mao đã định là 10,7 triệu tấn, tháng 9 lại đổi thành 12 triệu tấn. Sự tăng lên của những con số này đầy cho Mao những niềm tin tưởng. Cuối năm 1960, ông tin chắc rằng Trung Quốc sẽ bắt kịp Liên Xô, và ông tin rằng đến năm 1962, sản lượng thép của Trung Quốc sẽ đạt một trăm triệu tấn, nhiều hơn cả Mỹ, và sau vài năm nữa sẽ tăng lên thành mỗi năm một trăm năm mươi triệu tấn, đến năm 1975 sẽ đạt vài trăm triệu tấn, để Anh Quốc phía sau xa xôi.

Những lãnh đạo chặt chẽ theo Mao cũng bắt đầu nói những lời tưởng tượng. Dưới sự xuyên tạc của họ, lập trường của Mao trở nên thậm chí còn đạitúimật hơn. Chẳng hạn, Lý Phú Xuân tuyên bố rằng vì Trung Quốc có được ưu thế của chế độ xã hội chủ nghĩa, tốc độ phát triển của Trung Quốc sẽ đạt đến mức chưa từng có trong lịch sử nhân loại, chỉ cần bảy năm là có thể vượt qua Anh Quốc. Ông thậm chí còn lập ra một kế hoạch cấp tiến, dự định trong vòng chưa đầy ba năm, vượt qua Anh Quốc về sản lượng thép và các sản phẩm công nghiệp khác. Vào một ngày đầu tháng 6 năm 1958, Mao dựa lưng vào bờ hồ bơi, hỏi Vương Hạc Thọ, Bộ trưởng Bộ Luyện kim, liệu sản lượng thép có thể tăng gấp đôi không. Bộ trưởng Vương trả lời: "Không vấn đề gì cả!" Kha Khánh Thi cũng khoe khoang nói rằng riêng khu vực Đông Trung Quốc hàng năm có thể sản xuất tám triệu tấn thép. Những lãnh đạo địa phương khác như Vương Nhất Trọng, Tạ Phú Trị, Ngô Chi Phồng và Lý Tỉnh Tuyền v.v. cũng lần lượt đưa ra những lời cam đoan chuyên hàm, bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ tăng sản lượng thép. Tất cả những điều này đã khiến Mao sâu sắc hơn sa vào những ảo tưởng cá nhân của chính mình.

Để hoàn thành nhiệm vụ sản xuất thép, các địa phương bắt đầu xây dựng những lò cao nhỏ. Những lò cao nhỏ này được xây dựng từ cát, đá, gạch chịu lửa hoặc gạch thường, có cấu trúc tương đối đơn giản, mỗi nông dân đều được động viên tham gia vào phong trào luyện thép toàn dân. Những lò cao nhỏ thường cao ba đến bốn mét, phía trên có một nền tảng bằng gỗ, phía dưới được hỗ trợ bởi những cột, bên cạnh nền tảng có một tấm ván dốc. Những nông dân chạy lên chạy xuống trên dốc, một số dùng đòn gánh, một số dùng vai mang, đổ quặng vào lò cao nhỏ, rồi vận chuyển than đá, chất xúc tác và không khí từ phía dưới vào, sắt chảy và xỉ thép được thoát ra từ lỗ hở. Một số lò cao nhỏ thực sự có thể hoạt động bình thường, nhưng nhiều cái khác được xây dựng dưới sự bắt buộc của những cán bộ công xã có tính chất cuồng nhiệt, hoàn toàn không thể đưa vào sản xuất.

Vào cuối mùa hè năm 1958, phong trào luyện thép toàn dân đạt đến cao điểm. Người chịu trách nhiệm phong trào này chính là Trần Vân, vị chính khách bị Mao phê bình vào đầu năm 58. Bây giờ, để chuộc lỗi bằng công lao, ông ta đã làm việc rất chăm chỉ. Ngày 21 tháng 8, Trần Vân truyền đạt chỉ thị của Mao, yêu cầu tất cả các chỉ tiêu sản xuất phải được hoàn thành một cách tuyệt đối, những cán bộ không hoàn thành chỉ tiêu sẽ bị cảnh báo, bị khai trừ Đảng và những hình phạt kỷ luật Đảng khác. Tháng 9, Mao đến Vũ Hán, cắt băng khánh thành cho Nhà máy thép Vũ Hán – một nhà máy thép khổng lồ được xây dựng với sự hỗ trợ của người Liên Xô. Mao tham quan xưởng máy, chứng kiến trực tiếp dòng sắt chảy từ lò cao chảy ra. Ngay cùng ngày hôm đó, Bắc Kinh cử một đoàn gồm một nghìn năm trăm đảng viên tiên tiến đi tới các vùng miền của đất nước, thúc đẩy phong trào luyện thép toàn dân. Ngày 29 tháng 9, để chào mừng Quốc khánh, Trung ương đã đặt ra một chỉ tiêu sản lượng thép cao hơn nữa. Trong một cuộc họp điện thoại diễn ra hai tuần trước Quốc khánh, Bộ trưởng Luyện kim Vương Hạc Thọ yêu cầu các lãnh đạo các tỉnh dám thách thức. Ngày hôm sau, các lãnh đạo tỉnh lại thông qua cuộc họp điện thoại, chuyển áp lực xuống cho các đại biểu các thị xã và huyện dưới quyền.

Ở Vân Nam, Tạ Phú Trị ra lệnh cho mỗi người phải trở thành chiến sĩ trong phong trào này, ông còn công bố sẽ dùng hai tuần thời gian làm việc liên tục ngày đêm, tấn công tăng sản lượng thép. Mỗi sáng sớm chưa sáng, những đảng viên tiên tiến sẽ khởi hành tới các xóm làng hẻo lánh. Huyện Đức Hoàng đã động viên hai mươi vạn nông dân tham gia vào phong trào, hàng ngàn lò cao nhỏ có ngọn lửa sáng đỏ cả bầu trời, dân làng phân tán vào rừng tìm nhiên liệu, đôi khi phải dùng cuốc, xẻng thậm chí tay trần để đào than đá. Những tai nạn thường xuyên xảy ra. Đôi khi cây cối bị đổ sẽ đè chết người, đôi khi công nhân thiếu kinh nghiệm sẽ bị giết bởi những quả bom khi khai thác mỏ.

Tạ Phú Trị thường xuyên gọi điện thoại để hỏi tiến triển của phong trào. Cấp trên của ông ta là Bạc Nhất Ba cũng liên tục gây áp lực lên ông, và giao cho ông chỉ tiêu thép mới nhất là mười hai triệu tấn. Bạc Nhất Ba còn tự hào khoe khoang rằng ở khắp miền cả nước đã xây dựng năm mươi vạn lò cao nhỏ, có bốn mươi triệu người làm việc chăm chỉ trên tuyến đầu của phong trào luyện thép toàn dân. Ngày Quốc khánh, Bạc Nhất Ba công bố rằng tháng 10 sẽ là một tháng của cuộc Đại Nhảy Vọt trong sản xuất thép, do đó khắp nơi lại dấy lên một làn sóng cao trào mới. Số lượng người tham gia phong trào ở Vân Nam tăng mạnh từ ba triệu lên bốn triệu, đồng thời công bố triển khai phong trào lao động đột kích "tuần năng suất cao". Tạ Phú Trị tuyên bố: "Tất cả mọi mắt trong thế giới đều nhìn về Trung Quốc, chúng ta phải hoàn thành chỉ tiêu đã công bố, nếu không sẽ mất mặt hoàn toàn."

Nông dân không có lựa chọn khác ngoài việc bị kéo vào phong trào một cách bị động. Ở khu vực Khúc Tĩnh, tỉnh Vân Nam, nhiều nhà đã bị tháo sàn gỗ để đổ vào lò cao nhỏ, thậm chí những chú gà cũng bị giết, lông vũ được dùng làm nhiên liệu. Những cán bộ tiên tiến đi từng nhà để thu gom các sản phẩm bằng sắt, mọi vật dụng hàng ngày và dụng cụ nông nghiệp đều bị tịch thu. Những người không thể hiện đủ nhiệt tình với phong trào sẽ bị những cán bộ tiên tiến chỉ trích hoặc xô đẩy, thậm chí có người bị trói lên để bêu xấu trên phố. Những báo cáo điều tra của các đoàn kiểm tra cấp trên thường xuyên đề cập đến những thủ đoạn đe dọa nông dân này.

Đối với nông dân, năm 1958 là một năm vô cùng mệt mỏi, từ việc xây dựng công trình thuỷ lợi, cày sâu và trồng dày, rồi đến công xã nhân dân, phong trào nối tiếp nhau, đến nỗi có người chỉ nghe từ "phóng vệ tinh" đã sợ hãi, vì điều đó có nghĩa là sẽ phải hy sinh giấc ngủ, thức đêm liên tục và làm việc cặm cụi. Những người muốn lười biếng sẽ lẩn vào rừng lạnh ẩm để ngủ vài giờ, ánh lửa của lò cao nhỏ lấp lóe ở nơi xa, như những phố hoa trên bầu trời đêm. Những cán bộ công xã bất chấp nông dân đang chịu đói, mòn mỏi cắn giảm chi phí và khoe khoang sản lượng. Sau khi công xã thành lập công nhà ăn tập thể, các cán bộ còn phổ biến lợi dụng quyền lực trong tay để tùy ý cắt giảm khẩu phần của nông dân.

Vô số lò cao nhỏ cháy rực rỡ cả đêm, làm cho toàn bộ Trung Quốc tô đỏ một màu, nhưng ở mỗi ngôi làng, những bi kịch nhân gian khác nhau đang diễn ra. Ở Vân Nam, có những nông dân bị bắt buộc tham gia lao động nhưng vì không được ăn đủ và nghỉ ngơi đầy đủ mà chết mệt ngoài lò cao nhỏ. Một số người thật sự không chịu nổi, lén lút mang theo một cái lọ hoặc nồi liền chạy trốn. So với các phong trào chính trị trước đó, trong phong trào luyện thép toàn dân lần này xuất hiện hai hiện tượng bạo lực mới, đủ để tiêu diệt bất cứ ai không tuân theo chỉ huy. Thứ nhất, mỗi công xã đều thành lập dân quân, dùng để bắt buộc nông dân thực hiện các lệnh. Ở Mạch Thành, công xã cử dân quân đến làng để đuổi nông dân đi luyện thép, cứ đi thế là mấy ngày. Một người đàn ông rời công trường trước hạn mà không xin phép, kết quả bị bắt để bêu xấu trên phố, đội trên đầu một chiếc mũ cao bằng giấy với dòng chữ: "Tôi là một kẻ đào ngũ, mọi người đừng noi theo tôi."

Thứ hai, vì tất cả lương thực đều nằm trong tay công xã, những cán bộ có thể dùng gạo làm công cụ để thưởng hoặc phạt nông dân, bất cứ ai từ chối thực hiện các nhiệm vụ được giao hoặc có thái độ tiêu cực khi làm việc, đều sẽ bị cắt giảm hoặc bị tước khẩu phần. Ở Mạch Thành, những phụ nữ vì ở nhà chăm sóc con em mà không tham gia lao động đêm, kết quả bị cấm vào nhà ăn công cộng. Ở An Huy, một nông dân tên là Trương Ái Hoa nói rằng:

"Bảo bạn làm gì thì phải làm gì, nếu không cán bộ sẽ không cho bạn cơm ăn, họ nắm trong tay cái muỗng cơm..."

Về sau, nhiều nơi thậm chí còn tịch thu các dụng cụ nấu ăn ở nhà nông dân, quyền sống của mỗi người đều nằm trong tay cán bộ.

Phong trào luyện thép toàn dân cũng ảnh hưởng rất lớn tới cư dân thành phố. Ở Nam Kinh, mỗi lò cao nhỏ mỗi ngày có chỉ tiêu sản xuất cao tới 8,8 tấn. Để ngăn chặn lửa lò cao tắt, cần có người canh gác suốt đêm ngày, một số người thực sự quá đói, kết quả bị xỉu tại công trường. Cũng có người phản đối dưới áp lực rất lớn. Vương Mãn Hiếu từ chối làm việc quá tám tiếng một ngày, do đó bị phê bình bởi Bí thư ủy ban Đảng ở đơn vị mình, nhưng ông ta chất vấn: "Tôi chỉ làm tám tiếng thì sao?" Còn có người đặt câu hỏi về cách dùng lò cao nhỏ để vượt qua Anh Quốc, thậm chí một số nhóm lao động gần một nửa công nhân vì trốn tránh công việc vất vả mà bị cấp trên chỉ trích là "những phần tử lạc hậu".

Dù sao đi nữa, chỉ tiêu sản lượng thép được Trung ương đặt ra cuối cùng cũng đã hoàn thành, hay nói đúng hơn là chỉ hoàn thành trên con số, vì phần lớn sản phẩm được luyện từ lò cao nhỏ đều là xỉ thép, những viên sắt nhỏ và cứng chắc này hoàn toàn không thể dùng để chế biến công nghiệp, chỉ có thể vứt đi khắp nơi. Một báo cáo của Bộ Luyện kim chỉ ra rằng, nhiều tỉnh đã luyện ra những sản phẩm "thép" mà hai phần ba trở lên là phế phẩm, mà cái giá phải trả lại rất cao. Luyện một tấn thép bằng lò cao nhỏ cần chi phí từ 300 đến 350 nhân dân tệ, gấp đôi so với nhà máy thép, ngoài ra còn cần thêm bốn tấn than đá, ba tấn quặng sắt và 30 đến 50 ngày công lao động. Theo ước tính của Cục Thống kê Quốc gia, tổn thất trực tiếp của phong trào luyện thép toàn dân lên tới năm mươi tỷ nhân dân tệ, chưa kể những thiệt hại khổng lồ gây ra cho các công trình xây dựng, rừng cây, tài nguyên khoáng sản và nguồn nhân lực.

Một phong trào giả mạo cướp đi ít nhất 45 triệu mạng sống của con người, là thiên tai hay nhân họa?

Một cuộc điều tra lịch sử xuất sắc, tiết lộ một trong những tội ác tồi tệ nhất trong lịch sử thế giới

Từ năm 1958 đến 1962, Trung Quốc trở thành địa ngục trần gian. Mao Trạch Đông đã đẩy cả nước vào cơn sốt Đại Nhảy Vọt, cố gắng bằng cách này vượt qua và vượt Anh Quốc trong vòng mười lăm năm.

Cuộc thí nghiệm này cuối cùng đã dẫn tới thảm họa chưa từng có trong lịch sử Trung Quốc, cướp đi mạng sống của hàng chục triệu người. Mao Trạch Đông ngày đó đã muốn thông qua Đại Nhảy Vọt nâng Trung Quốc lên thành siêu cường quốc, và bằng cách đó chứng minh với thế giới sức mạnh của chủ nghĩa cộng sản, nhưng cuối cùng chỉ là giấc mơ của kẻ đần độn. Phong trào Đại Nhảy Vọt cuối cùng phát triển thành "một trong những vụ giết hại tập thể lớn nhất trong lịch sử nhân loại" – ít nhất từ 45 đến 50 triệu người đã chết vì quá sức lao động, đói khát hoặc bị đánh đập; không chỉ vậy, nó còn gây ra những vụ sập đổ công trình xây dựng quy mô lớn nhất trong lịch sử nhân loại, mang lại những thiệt hại thảm khốc cho môi trường tự nhiên.

"Đại Đói Kiếp của Mao Trạch Đông" là một tác phẩm bắt buộc phải đọc để hiểu lịch sử Trung Quốc thế kỷ 20. Nhiều thập kỷ đã trôi qua, nhưng quá khứ chưa như khói, những khoảnh khắc tối tăm của thời đại đó, sự điên cuồng của chính trị, và vô số mạng sống vô tội đã biến mất trong lịch sử, tất cả sẽ được thế giới nhớ đến nhân bút của Phùng Khách.