Bất kỳ bệnh tật nào của loài người cũng như cách chữa trị của chúng đều không xuất hiện từ hư không, mà đều có nguồn gốc và lịch sử phát triển riêng. Thời kỳ khoa học chưa phát triển, cách con người nghiên cứu nguyên nhân bệnh tật hay tìm kiếm phương pháp điều trị đều không mang tính hệ thống hay khoa học. Thường phải trải qua thời gian dài suy đoán, thử sai, thậm chí còn cần thêm may mắn mới có thể tìm ra câu trả lời đúng. Quá trình này có thể kéo dài hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm, bao trùm nhiều lục địa trên toàn thế giới. Nhìn lại lịch trình phát triển này từ góc độ y học hiện đại là một việc làm rất thú vị và đầy bài học.
Tác giả bộ tiểu thuyết "Hồng Lâu Mộng" Cao Tuyết Cần có thể miêu tả chi tiết cuộc sống của các nhân vật trong gia tộc quan lại giàu có ở Giang Nam một phần nhờ vào quá trình lớn lên của chính ông. Cụ của ông là Tào Ấn và ông ngoại là Tào Dần đều là những người thân cận tin dùng của hoàng đhoàngđếKhang Hy (1654-1722), cả ở công việc lẫn đời sống riêng tư. Khang Hy chỉ định Tào Ấn và Tào Dần làm Giang Ninh Dệt Tạo Lãng Trung - một chức vụ không quá to lớn nhưng vô cùng béo bở. Mặc dù là cơ quan quản lý mua bán lụa tơ cho triều đình, nhưng hai ông lại là những cố vấn tin cậy của hoàng đế, mang tính chất là sứ giả hoàng gia, có thể trình báo trực tiếp với hoàng đế. Sau này Tào Dần còn được chỉ định kiêm nhiệm chức Hai Huái Tuần Mặn Ngự Sử, sở dĩ Cao Tuyết Cần thời thơ ấu sống trong gia đình vừa giàu có vừa mãn nguyện, nhưng sau đó ông đã chứng kiến sự sụp đổ nhanh chóng của gia tộc.
Mức độ chăm sóc và ân huệ của Khang Hy dành cho Tào Dần vượt xa những gì ông ban cho những thần tộc bình thường. Điều này có thể thấy rõ khi Tào Dần bị bệnh. Năm thứ năm mươi mốt của Khang Hy (1712), Tào Dần mắc bệnh nặng và gửi tâu thưa rằng:
"... Các vị bác sĩ dùng thuốc không thấy có hiệu quả, chỉ mong Bệ hạ ban thuốc thần kỳ để cứu con..."
Khang Hy nhận được tin báo và vô cùng lo lắng, viết một bản phê dài dòng:
"... Chúng mày thưa rất tốt. Nay ta muốn ban thuốc chữa sốt rét, nhưng sợ bị chậm trễ, nên ban xe ngựa chạy đêm về.... Những thầy thuốc ở phương Nam thường hay dùng thuốc bổ, gây hại cho bao nhiêu người mà không tính kể, phải cẩn thận.... Kim Kỳ Xà chuyên trị sốt rét.... Nếu không phải sốt rét, thuốc này không dùng được, phải xác thực. Dặn dò, dặn dò, dặn dò, dặn dò vạn lần."
Tiếc thay, thuốc của Khang Hy chưa kịp gửi đến thì Tào Dần đã mất.
Theo như vậy, Tào Dần có vẻ mắc bệnh sốt rét. Tuy nhiên cũng khó nói chắc chắn, vì lúc đó chẩn đoán bất kỳ bệnh gì cũng chỉ dựa vào triệu chứng của bệnh nhân và kinh nghiệm chủ quan của bác sĩ, không có gì để xác thực khách quan. Bất kỳ bệnh truyền nhiễm nặng nào gây cho cơ thể sốt, ớn lạnh có thể bị chẩn đoán là sốt rét, chưa chắc đã là sốt rét thật sự. Đây không phải lỗi của "những thầy thuốc quân phương", ngay cả các bác sĩ hoàng gia cũng vậy, vì y học lúc đó chưa đạt đến mức độ đó. Nhưng từ những lời dặn dò của Khang Hy có thể thấy, vị hoàng đế này thực sự thông minh, có hiểu biết y học nhất định, biết rằng thuốc không thể dùng bừa bãi, "Kim Kỳ Xà" chỉ có thể dùng để chữa sốt rét, nếu không chẩn đoán đúng sẽ có hại vô lợi. Điều này đã vượt xa so với nhiều thầy thuốc bình thường.
Vậy thì thuốc "Kim Kỳ Xà" của Khang Hy từ đâu mà có, ông làm sao biết rằng nó chỉ có thể dùng để chữa sốt rét?
Sớm hơn hai mươi năm, vào năm 1693, hoàng đế Khang Hy lúc 39 tuổi mắc phải "bệnh sốt ác tính" (rõ ràng là sốt rét), sốt cao, ớn lạnh, run rẩy đến gần như băng hà. Tất cả các bác sĩ hoàng gia đã thử dùng vô số loại thuốc thần kỳ, thậm chí còn tìm kiếm các bí phương từ nhân gian, nhưng đều vô hiệu. Lúc này ông triệu tập hai vị thần sĩ Pháp là Hồng Nhã Hàn (Jean de Fontaney) và Lưu Ứng (Claude de Visdelou) vào kinh, vì trước đó ông đã nghe từ các nhà truyền giáo Pháp khác rằng ở Pháp có một loại thuốc thần kỳ để chữa loại sốt rét này, gọi là "Kim Kỳ Xà", trúng lúc Hồng Nhã Hàn và Lưu Ứng vừa mới nhận được một lô thuốc "Kim Kỳ Xà" mới từ Pháp, nên ông phát lệnh triệu họ đến "cứu vua".
Khang Hy hoàng đế (1654-1722)
Hai vị thần sĩ mang theo Kim Kỳ Xà đến gần hoàng đế nhưng bị tất cả các bác sĩ hoàng gia phản đối, vì họ cho rằng làm sao người nước ngoài có thể sở hữu các loại tiên đan mà tổ tiên Trung Quốc không có? Nếu vội vàng dùng thuốc lạ này, bệnh có thể không được chữa, chứ đừng nói đến việc làm tổn thương thân thể của vua thì sao? Tuy nhiên Khang Hy bệnh quá nặng không chịu nổi, nên nhất quyết dùng tước học lý trực tiếp. Ông thận trọng tìm tới một số người khác cũng mắc sốt rét (lúc đó sốt rét có vẻ đang lây lan ở thủ đô, nếu không làm sao có thể tìm được?) để thử, kết quả tình trạng của những bệnh nhân này lập tức cải thiện. Khang Hy cũng dùng Kim Kỳ Xà và tương tự cũng lập tức thấy hiệu quả, không lâu sau hoàn toàn hồi phục.
Từ đó trở đi, Khang Hy có niềm tin lớn vào "y học phương Tây", mở rộng sử dụng nó, và suốt cuộc đời ông vẫn giữ sự quan tâm khá lớn đến các công nghệ khoa học phương Tây. Nếu lúc đó Khang Hy không mắc bệnh đó, hoặc mặc dù mắc bệnh nhưng không có những người nước ngoài hiểu cách dùng Kim Kỳ Xà giúp ông chữa, thì toàn bộ lịch sử Trung Quốc có thể sẽ đi theo con đường hoàn toàn khác.
Thời đó là cuối thế kỷ 17, lý do các nhà truyền giáo Pháp có thể chữa sốt rét một cách tự tin là vì lúc đó người châu Âu đã chiến đấu với sốt rét trong hàng thế kỷ, và vừa mới khám phá ra cách chữa trị cho bệnh này, loại thuốc này đang được ưa chuộng rộng rãi ở châu Âu.
Sốt rét là một bệnh dịch cổ xưa, từ thời tiền sử, nó đã hoành hành khắp mọi quốc gia và cộng đồng dân tộc khác nhau trên thế giới, cho tới ngày hôm nay. Người La Mã thời Trung Cổ cho rằng nó do các khí độc từ các vùng đầm lầy tỏa ra gây nên. Thực tế, từ "malaria" trong tiếng Anh chỉ sốt rét có nguồn gốc từ từ "malaria" của tiếng Ý thời Trung Cổ. "Mal-" có nghĩa là "xấu", "aria" có nghĩa là "không khí", nên "malaria" có nghĩa là "không khí xấu", hoàn toàn giống với ý tưởng "sốt rét hơi" mà người Trung Quốc xưa nói. Cho tới khi ký sinh trùng sốt rét được phát hiện vào thế kỷ 19, con người chỉ có thể đoán về nguyên nhân gây bệnh sốt rét, và dĩ nhiên chỉ có thể dựa vào kinh nghiệm để điều trị. Trước thế kỷ 17, ở châu Âu chưa bao giờ có trường hợp chữa trị sốt rét thành công, bởi vì lúc đó các bác sĩ châu Âu khi gặp bệnh nhân sốt rét cũng chỉ biết làm như xử trí bất kỳ bệnh nào khác - cho bệnh nhân lấy máu.
Mở rộng đọc: Chất lỏng bí ẩn chảy trong cơ thể - Lịch sử truyền máu của loài người từ cừu bắt đầu
Vào cuối thế kỷ 15, sau khi Colum phát hiện ra Tây Bán Cầu mới, các nhà thám hiểm châu Âu vì nhiều lý do khác nhau ập vào Nam Mỹ, gây ra tổn hại chí mạng cho sự tồn tại và văn hóa của các dân tộc bản địa, thậm chí còn đem chiến tranh và các bệnh từ châu Âu mà những người bản địa hoàn toàn không có khả năng miễn dịch, dẫn tới sự tuyệt chủng của toàn bộ nền văn minh Inca. Nhưng có một điều mỉa mai là, những kẻ xâm lược châu Âu lại nhận được loại thuốc cứu mạng từ các dân tộc bản địa Nam Mỹ. Sau khi đến Nam Mỹ, các thám hiểm gia rất khổ vì "sốt rét hơi", nhưng người bản địa lại hiếm khi gặp vấn đề này. Sau khi quan sát cẩn thận, họ phát hiện ra rằng các dân tộc bản địa thường lấy vỏ cây Kim Kỳ Na (cinchona trees), tán thành bột, trộn với nước ngọt (vì bột này vô cùng đắng) rồi uống. Có lẽ đó chính là lý do.
Cinchona (Kim Kỳ Na)
Vào thế kỷ 17, ở Roma xảy ra dịch sốt rét lớn, làm chết một số vị Giáo Tông, Hồng Y và vô số dân thường, điều này rõ ràng gây ra sự cảnh báo và hoảng sợ trong toàn bộ giới tăng sĩ Công giáo trên thế giới. Một vị linh mục Dòng Tên (Hội Thánh Tây) người Ý tên là Agostino Salumbrino (1564-1642) làm việc truyền giáo ở Peru, thấy người bản địa dùng bột vỏ cây Kim Kỳ Na chữa bệnh sốt rét với hiệu quả kỳ diệu, nên vào năm 1631 ông gửi một lượng nhỏ bột vỏ cây này về Roma, để thử dùng chữa sốt rét.
Kết quả là, trong vài chục năm tiếp theo, bột vỏ cây Kim Kỳ Na lan rộng khắp toàn châu Âu, trở thành một loại dược phẩm quý hiếm, đắt đỏ, và trở thành một trong những hàng hóa nhập khẩu quý giá nhất từ Peru vào châu Âu. Người châu Âu lúc đó gọi loại tiên đan chữa sốt rét này là "Vỏ cây của Hội Thánh Tây" (Jesuit's bark). Hồng Nhã Hàn và Lưu Ứng, những người giúp Khang Hy chữa bệnh, chính là những linh mục Dòng Tên.
Sau khi Dòng Tên đưa vỏ cây Kim Kỳ Na vào châu Âu, ban đầu chỉ được sử dụng ở Roma. Sau đó Dòng Tên tổ chức vài cuộc họp lớn vào những năm 1640, trong đó quyết định rằng các linh mục Dòng Tên từ từng quốc gia châu Âu sẽ đem loại thuốc tốt này về nước của họ để quảng bá sử dụng. Điều đáng lưu ý là, liệu pháp này lại bị "giới y học chính thống" của châu Âu phản đối mạnh mẽ. Các bác sĩ cho rằng, khi bác sĩ gặp bệnh nhân bị sốt cao, phải cho bệnh nhân lấy máu thì mới đúng, làm sao có thể dùng những thứ như vỏ cây Kim Kỳ Na, hoàn toàn không phù hợp với y học, nguồn gốc bí ẩn, xét nệ kỳ quái, có cảm giác dị giáo? Quá mất thể diện! Cho nên lúc đó giới y học thường xuyên viết bài chỉ trích việc sử dụng bột vỏ cây Kim Kỳ Na của Dòng Tây.
Trong bối cảnh đó, nước Anh xuất hiện một nhân vật thú vị, đáng được nhắc đến, tên là Robert Talbor (1642-1681). Ban đầu ông là một học viên dược sĩ, sau đó không hoàn thành đại học, liền chạy đến các vùng đầm lầy ở Essex để hành nghề y - đó là cái mà chúng ta ngày nay gọi là "y sĩ chui". Tài năng của ông trong chữa sốt rét đặc biệt tuyệt vời, hiệu quả đặc biệt tốt, nên danh tiếng lan rộng. Talbor tuyên bố rằng ông tự mình nghiên cứu ra một phương thuốc bí mật từ các loại thảo dược, không chịu công khai, đồng thời còn viết bài cảnh báo mọi người, nói rằng cái gọi là "thuốc bột của Hội Thánh Tây" không phải không có tác dụng, nhưng nếu sử dụng không đúng cách sẽ có hậu quả nghiêm trọng. Về cơ bản, ông là một y sĩ chui khuyên mọi người đừng tự ý dùng thuốc thành phẩm, có bệnh thì phải tìm ông.
Danh tiếng của Talbor sau này lớn đến mức vua nước Anh lúc đó, vị vua phong nhã được gọi là "Vua Vui Vẻ" Charles II (1630-1685) cũng nghe được. Vua tìm người mời ông đến, thử "công thức bí mật" của ông trên một số bệnh nhân sốt rét, kết quả hiệu quả xuất sắc. Charles II vô cùng vui mừng, nên vào năm 1678 ông phong ông tước vị, mời ông làm bác sĩ hoàng gia. Trúng thời, vào năm 1679 Charles II chính ông cũng mắc sốt rét, lại dùng công thức bí mật của Talbor để chữa khỏi. Từ đó trở đi, Talbor với vẻ ngoài thần y đi lại giữa các nước châu Âu như Pháp, Tây Ban Nha, chữa bệnh cho hoàng thân quý tộc, thành công rực rỡ, nổi tiếng và giàu có.
"Vua Vui Vẻ" Charles II (1630-1685)
Công thức bí mật của Talbor vì hiệu quả xuất sắc nên được gọi là "Liệu pháp Anh" (English remedy) ở châu Âu. Vua Pháp lúc đó, biệt danh "Vua Mặt Trời" Louis XIV (1638-1715), mong muốn bằng mọi cách mua lại công thức bí mật của Talbor, kết quả Talbor cuối cùng đồng ý, nhưng có một điều kiện là nội dung công thức bí mật chỉ được công bố sau khi ông mất. Vì vậy "Liệu pháp Anh" trở thành bí mật của Talbor và bác sĩ hoàng gia của Louis XIV. Chính Louis XIV đã cử hai vị linh mục Dòng Tên Pháp là Hồng Nhã Hàn và Lưu Ứng ra nước ngoài làm sứ giả đến Trung Quốc, tới gần Khang Hy.
"Vua Mặt Trời" Louis XIV (1638-1715)
Số mệnh không cho ông sống lâu, Talbor khi ở đỉnh cao của cuộc đời chính mình, vào năm 1681 mất. Năm sau, bác sĩ hoàng gia của Louis XIV theo đúng thỏa thuận công bố công thức bí mật, kết quả bất ngờ công thức bí mật đó không gì khác hơn là bột vỏ cây Kim Kỳ Na mà chính Talbor đã từng viết bài cảnh báo mọi người hãy cẩn thận. Rõ ràng Talbor là một người lắm mưu mô, nhưng cuộc đời kiếm sống của ông lại đã phát huy tác dụng tích cực khá lớn trong việc quảng bá vỏ cây Kim Kỳ Na cũng như chữa trị sốt rét trên toàn châu Âu.
Thành phần hoạt tính của vỏ cây Kim Kỳ Na để chữa sốt rét là "quinine", nhưng mãi đến năm 1820 nó mới được nhà hóa học Pháp Pierre Joseph Pelletier (1788-1842) và dược học gia Joseph Bienaimé Caventou (1795-1877) tách chiết ra từ vỏ cây Kim Kỳ Na. Tuy nhiên trong hơn một trăm năm trước đó, vỏ cây Kim Kỳ Na dưới dạng thảo dược hay công thức bí mật đã chữa khỏi vô số bệnh nhân sốt rét, và ít nhất đã lần lượt cứu sống hai vị hoàng đế, một từ Trung Quốc một từ phương Tây.
Khang Hy hoàng đế và Charles II rõ ràng đều là những vị vua có đầu óc linh hoạt, không quá bị những định kiến ràng buộc. Khi đang đối mặt với nguy hiểm chết chóc, họ có thể không bị giới hạn bởi các ý kiến có thẩm quyền, dám thử nghiệm, để cho kết quả nói lên tiếng nói. Mặc dù điều đó chưa thể gọi là thực sự có thái độ khoa học, nhưng hiểu biết và tầm nhìn của họ đã vượt xa so với các bác sĩ đương thời của họ.
Mở rộng đọc: Khám phá thế giới nội tâm của Khang Hy
Sự ra đời của quinine có ảnh hưởng lớn lao đối với lịch sử loài người, ngoài việc cứu sống mạng sống của nhiều bệnh nhân sốt rét, nó còn thay đổi trên quy mô lớn các hoạt động và phân bố lãnh thổ của loài người. Chẳng hạn, trong quá khứ do sốt rét hoành hành, lục địa châu Phi luôn được người da trắng coi là nơi đáng sợ, được gọi là "mộ của người da trắng". Khi quinine ra đời, người da trắng châu Âu mất đi mối lo ngại này, liền ồ ạt kéo vào châu Phi giàu tài nguyên thiên nhiên. Nói cách khác, quinine gián tiếp thúc đẩy hành động chiếm đóng châu Phi của người da trắng, giúp hình thành nét mặt của thế giới ngày nay. Về mặt này là công hay ququá, có lẽ phải để các nhà sử học tranh luận.
Sản lượng cây Kim Kỳ Na có hạn, dù đã tăng cường trồng trọt, vẫn không đủ. Quinine tổng hợp nhân tạo cuối cùng vào năm 1944 mới được nhà hóa học hữu cơ người Mỹ Robert Woodward (1917-1979) và William Doering (1917-2011) tổng hợp thành công. Lúc đó Thế chiến thứ hai gần kết thúc, trong những năm chiến tranh trước đó, do nhu cầu quinine toàn thế giới tăng đột biến, nguồn cung không đủ, hàng vạn binh sĩ châu Âu, Mỹ hay châu Á đã chết vì mắc sốt rét trên chiến trường nhiệt đới. Gần như cùng thời kỳ với quinine được tổng hợp thành công, còn có "chloroquine" (Chloroquine) và "hydroxychloroquine" (Hydroxychloroquine), đều có thể được dùng để chữa sốt rét. Hydroxychloroquine ngoài ra còn có thể dùng để chữa một số bệnh tự miễn.
Binh sĩ Hải quân Mỹ mắc sốt rét tại đảo Guadalcanal trong Thế chiến II
Nói đến hydroxychloroquine, vào năm 2020 nó còn gây ra một chủ đề mới. Sau khi đại dịch COVID-19 phát triển thành dịch bệnh toàn thế giới, mọi người đều cố gắng tìm kiếm loại thuốc có hiệu quả chữa trị. Kết quả vào tháng Năm, Tổng thống Mỹ Trump đột ngột công bố rằng để "phòng ngừa virus corona chủng mới", ông đã bắt đầu uống hydroxychloroquine. Nhưng thực tế loại thuốc này không chỉ không có bằng chứng thử nghiệm nào cho thấy nó có thể phòng ngừa hay chữa trị virus corona chủng mới, mà còn có thể gây ra tác dụng phụ nguy hiểm về tim. Trump với tư cách là Tổng thống Mỹ có ảnh hưởng to lớn, lại công khai nói những lời bất cẩn không có trách nhiệm như vậy, đưa dẫn sai lệch nhận thức của toàn dân, có vẻ như so với tư cách là "chủ của một nước", Tổng thống Trump với tư cách là con người hiện đại thì trí tuệ còn kém xa so với hoàng đế Khang Hy và Charles II thế kỷ 17.
Cuộc chiến đấu giữa sốt rét và loài người kéo dài lâu, bệnh chưa bao giờ bị tiêu diệt. Từ vỏ cây Kim Kỳ Na bắt đầu, cho tới khi các loại thuốc quinine ra đời, con người cuối cùng đã có được vũ khí thực sự để đối phó với sốt rét. Tuy nhiên nỗ lực tìm kiếm các phương pháp điều trị hiệu quả hơn cũng chưa bao giờ dừng lại. Nhiều năm sau khi các loại thuốc quinine ra đời, vấn đề kháng thuốc và tác dụng phụ dần dần xuất hiện. Nhà khoa học y học cổ truyền Trung Quốc Tử Hóa Hòa, lấy cảm hứng từ các tài liệu y học cổ đại, qua năm tháng nghiên cứu liên tục nỗ lực, cuối cùng thành công phát triển ra artemisinin (thanh hảotố) và dihydroartemisinin (hai hydro thanh hảotố), hiện nay đã trở thành phương án điều trị sốt rét hiệu quả nhất và chuẩn mực nhất, đã cứu sống vô số bệnh nhân sốt rét trên thế giới, chính bà Tử Hóa Hòa cũng vì thế được vinh danh nhận Giải Nobel năm 2015.
Cho tới bây giờ, cách đây ba trăm nhiều năm kể từ khi ông Khang Hy ở cùng Bắc Kinh uống lô thuốc "Kim Kỳ Xà" cứu mạng kia, lịch sử đã trôi qua một khoảng thời gian dài.
Mở rộng đọc: Lên núi hái thuốc? Sửa đạo tu luyện tiên đan? Nỗ lực và cơ duyên trong phát triển thuốc - "Thợ Săn Thuốc"
Chương này trích dẫn từ cuốn sách của nhà xuất bản Mạch Điền "Y Học Kỳ Diệu: Những Sự Kiện Y Học Đảo Lộn Nhận Thức, Những Ghi Chép Riêng Từ Phòng Khám Tới Hồ Sơ Lịch Sử Của Một Bác Sĩ Thần Kinh, Những Bí Mật Cơ Thể, Nguồn Gốc Bệnh Tật, Những Giai Thoại Y Học Mà Bạn Chưa Biết..."
Mua cuốn sách này
Đây là một cuốn sách kể chuyện.
Nhiều bộ phận trên cơ thể chúng ta hóa ra đều gắn liền với những câu chuyện huyền thoại nào đó.
– Ngày nay đơn vị chiều dài của châu Âu và Mỹ "foot" (bàn chân), tiếng Anh cũng gọi là "foot". Tại sao? Vì châu Âu xưa, kể cả nước Anh, thực sự dùng chiều dài một bàn chân của con người làm một đơn vị đo lường.
– Vào thời kỳ Phục Hưng, ở các thành phố lớn như Luân Đôn, Paris, Amsterdam, các trường y học rộng rãi có "nhà hát giải phẫu". Mỗi lần có giải phẫu xác, sẽ kéo hàng trăm người vào xem.
– Bác sĩ thời cổ đại châu Âu bất kể gặp bệnh nhân nào, không suy tính gì cả liền cho lấy máu. Washington chỉ vì một cơn cảm cúm, lại bị các bác sĩ nổi tiếng lúc đó cho lấy máu mà qua đời. Còn có các phương pháp khác nữa như uống "bữa ăn giun đũa" để giữ hình thể; hay tin rằng bệnh nhân ăn hay bôi một phần xác chết có thể hút lấy "tinh lực" trong đó - "liệu pháp xác chết"...
Trong quá trình lâu dài giao tác giữa nhân văn và y học, đã tích lũy nhiều dấu ấn hay biểu tượng thú vị. Dấu vết của điều trị y tế và bệnh tật không chỉ xuất hiện ở bệnh viện, sách giáo khoa hay lịch sử y học. Trong lịch sử, nghệ thuật và văn học, cũng thường có thể bắt gặp dấu vết của chúng.
Bác sĩ thần kinh kỳ cựu, người giỏi kể chuyện - Uông Hàn Trừng viết những bí mật cơ thể mà bạn chưa biết, nguồn gốc bệnh tật, những giai thoại y học...



