"Cái đẹp" rốt cuộc là gì? Ngoại hình của con người có tiêu chuẩn đẹp xấu cố định không? Nếu hỏi bất kỳ một người có lý trí, câu trả lời chắc chắn sẽ là: "Ngoại hình đẹp xấu không có tiêu chuẩn cố định, mỗi người có gu riêng mà!" Câu trả lời này nghe có vẻ hợp lý, nhưng nếu ta lấy ra một bức ảnh chụp hai người có ngoại hình khác biệt rõ rệt và yêu cầu ai đó chỉ ra ai đẹp hơn, thì lựa chọn của hầu hết mọi người lại gần như giống nhau. Làm sao giải thích được điều này? Rõ ràng, thước đo về đẹp xấu trong tâm trí của đa số mọi người gần như tương đồng, chỉ là họ không biết cách giải thích bằng lời.

Ngoại hình xinh đẹp không chỉ là vấn đề về thẩm mỹ. Theo nghiên cứu, những người có ngoại hình đẹp thường được đối xử tốt hơn, có lợi thế hơn trong công việc và tình cảm. Do đó, nếu có cơ hội thay đổi ngoại hình của mình để được nhiều người chào đón hơn, hầu hết mọi người đều sẵn sàng làm điều đó. Đó chính là lý do tại sao những năm gần đây, "thẩm mỹ y học" phát triển rực rỡ. Nhiều nghệ sĩ, nhân vật công chúng, thậm chí những người bình thường, nam hay nữ, dù vì duy trì sự nghiệp, tìm kiếm sự tự tin hay giữ gìn tình cảm, đều liên tục tìm cách "thay đổi" bản thân, làm cho thị trường phát triển mạnh mẽ. Trùng hợp là, ngành y tế truyền thống đang phải đối mặt với nhiều thách thức, nên không ít bác sĩ từ các khoa y học khác nhau chuyển sang lĩnh vực thẩm mỹ y học, tạo thành một xu hướng mạnh mẽ.

Nhiều đồng nghiệp trong ngành y tế cảm thấy không thoải mái khi nhiều bác sĩ, sau khi học y tế qua nhiều năm và đào tạo chuyên sâu, lại không cứu người theo đuổi sự nghiệp cao cả mà đi kiếm lợi nhuận bằng cách "trang điểm" cho mặt tiền nhân vật khác. Do vậy, họ đôi khi nhìn những bác sĩ làm thẩm mỹ bằng ánh mắt hoài nghi, thậm chí coi hiện tượng thẩm mỹ y học phổ biến này là một phần của cái gọi là "suy thoái y tế". Thực ra, tôi không thấy vấn đề lớn lao như vậy. Phạm vi y học đã rất rộng rãi, và khi công nghệ phát triển, nó còn mở rộng hơn nữa. Liệu "thẩm mỹ y học" có phải là ngành y học hợp lý hay bác sĩ chuyên nghiệp có nên tranh sự công việc với thợ làm tóc là một vấn đề triết học mà mỗi người có cách nhìn khác nhau. Để trả lời đúng câu hỏi này, về cơ bản phải tùy thuộc vào cách chúng ta định nghĩa xấu là một loại "bệnh" hay không.

Bất kể mọi người nhìn nhận thế nào về triết học của vấn đề liệu làm đẹp có phải trách nhiệm của y học, y học hiện đại đã phát triển đến mức chưa từng có, cho phép con người thay đổi ngoại hình bản thân. Tất nhiên, nhiều vấn đề đi kèm theo. Mọi công nghệ y học đều có tác dụng phụ tiềm ẩn và những biến số không thể dự đoán, và thẩm mỹ y học cũng không ngoại lệ.

Trên các phương tiện truyền thông, thường xuyên có những tranh chấp, thậm chí kiện tụng giữa khách hàng thẩm mỹ và bác sĩ thẩm mỹ. Nếu những tin tức này kèm theo hình ảnh, chúng thường có tính chất giải trí cao, vì mọi người có thể tự mình đóng vai trò thẩm phán, xác định xem liệu bác sĩ có thực sự biến khách hàng từ thiên hạ thành Đông Thi hay không, hay là khách hàng từ đầu đã có vấn đề? Trên thực tế, mong muốn nâng cao vẻ đẹp của mình là điều có giá cả trong mọi thời đại. Từ thời cổ đại, trang điểm và làm đẹp đã gây ra không ít vấn đề y học.

Kỹ thuật thay đổi ngoại hình của con người có nguồn gốc rất sâu xa. Theo khảo cổ học, những công nghệ làm đẹp được ghi chép lại có thể lần ngược về Ai Cập cổ đại thời kỳ sơ khai. Người Ai Cập cổ đại, bất kể nam hay nữ đều trang điểm. Son môi và phấn mắt là những vật dụng bắt buộc, loại sau thường có màu xanh lá, được quét trên mí mắt trên và dưới. Chân mày và mascara khá phổ biến, màu đen. Một số phụ nữ sẽ tô cánh tay bằng sơn xanh lam, và tô núm vú bằng vàng. Những sơn này thường chứa các thành phần khoáng chất độc hại.

Từ tượng ngực của Nữ hoàng Nerfertiti thời Ai Cập cổ đại, có thể suy đoán được những trọng tâm trang điểm của phụ nữ lúc đó cũng như tưởng tượng của họ về cái đẹp.

Từ Hy Lạp cổ đại cho đến Đế chế La Mã, những phụ nữ quý tộc sẽ thoa bột trắng chứa chì trên mặt và toàn bộ cơ thể, tạo ra hiệu ứng trắng sáng, đồng thời thường xuyên sử dụng sơn xanh lam để vẽ các tĩnh mạch trên khuôn mặt, làm cho chúng rõ ràng hơn. Ngay cả vào những thời kỳ xa xưa đó, các dụng cụ trang điểm và hợp chất hóa học đã khá đa dạng, và những hiệu ứng mà chúng tạo ra, thậm chí khi nhìn bằng ánh mắt hiện đại, cũng rất thời thượng.

Thành phần chính của bột chì là một loại muối cơ bản cacbonat chì. Bởi vì nó có màu trắng rất sáng và có độ dính cao, không dễ rơi ra khỏi da, nên từ xưa đã là "bảo bối" làm đẹp. Loại sản phẩm này không chỉ được những phụ nữ yêu sắc đẹp ở Hy Lạp cổ đại và La Mã sử dụng. Trong tiếng Trung cổ đại có câu thành ngữ "rửa sạch chì hoa", có nghĩa là lau sạch tất cả phấn trang điểm trên mặt, ẩn dụ cho con người từ rực rỡ quay về bình thường. "Chì hoa" này chính là bột chì dùng cho trang điểm, chứng minh rằng tiêu chuẩn yêu thích da trắng và sở thích dùng đồ dùng của người xưa ở Đông và Tây là như nhau.

Thói quen dùng bột chì để làm trắng da thậm chí không giới hạn ở phụ nữ. Vào cuối thời Đông Hán, đầu thời Ngụy Tấn, một quý tộc đẹp trai là Hà Yến nổi tiếng với hình tượng nam thần vì ngoại hình lộng lẫy và yêu thích trang điểm. Theo ghi chép trong "Thế thuyết tân ngữ", do da của Hà Yến quá trắng sáng, hoàng đế nghi rằng ông ta sử dụng bột chì, nên cố ý mời ông ấy ăn mì nóng trong ngày nắng nóng để xem cơ thể ông ấy ra mồ hôi có lẫn bột chì không. Ngờ đâu khi ra mồ hôi và lau sạch, da Hà Yến lại càng trắng sáng hơn, thực sự đáng để kiểm chứng.

Ở phương Tây, thói quen dùng bột để làm trắng da kéo dài đến thời Trung Cổ châu Âu. Thậm chí nhiều phụ nữ quý tộc thời Trung Cổ còn cố ý lấy máu định kỳ, gây thiếu máu, để làm cho da họ trông nhợt nhạo hơn. Đến thế kỷ 17, lối trang điểm chuẩn là dùng bột chì làm nền, phấn hồng nâu, cộng với son môi đỏ. Từ thế kỷ 18 đến 19, những phụ nữ quý tộc đã tiến vào một giai đoạn mới trong việc theo đuổi "màu trắng". Có một yếu tố tâm lý rất thú vị đằng sau điều này: trong xã hội lúc đó, mọi người nhất quán tin rằng những "quý cô" không nên làm việc lao động, do đó cũng không nên có cơ hội tiếp xúc với mặt trời. Vì vậy, da nhợt nhạo đến gần như trong suốt mới là biểu tượng của quý cô.

Trong thời kỳ Nữ hoàng Elizabeth I của vương triều Tudor của Anh (1533-1603), phong cách trang điểm của phụ nữ đã sử dụng kem nền màu trắng làm từ chì.

Một số nhà sử học cho rằng, do bệnh lao quá phổ biến vào lúc đó, nên làn da nhợt nhạo, má hồng phúc, và đôi mắt sáng do bệnh lao gây ra lại trở thành tiêu chuẩn của cái đẹp. Một số phụ nữ yêu sắc đẹp thậm chí còn uống một lượng nhỏ hợp chất arsen (lạc bạch), gây ngộ độc, để tạo ra hiệu ứng vẻ đẹp bệnh tật tương tự.

Vào thế kỷ 19, sau khi Nữ hoàng Victoria (1819-1901) nắm quyền tại Anh, phong trào trang điểm phần nào bị kìm hãm. Bởi vì Nữ hoàng Victoria công khai tuyên bố rằng phụ nữ trang điểm quá nhiều là hành vi "không đứng đắn", đặc biệt là phấn hồng và son môi là dấu hiệu của sự buông thả. Còn về ngoại hình của nữ hoàng bản thân, theo các ghi chép, không tốt lắm, trên thang điểm đẹp từ 0 đến 10, cô khoảng 2-3 điểm, và rõ ràng không bao giờ trang điểm.

Vì vậy, trong thời kỳ Victoria cầm quyền, những phụ nữ Anh buộc phải chuyển trang điểm sang dùng ngầm, thoa lén một ít mỹ phẩm, hoặc sử dụng những cách thay thế khác. Lúc đó, những cô gái xinh đẹp đôi khi dùng một cách biến thông, là cắn mạnh môi của chính mình trước khi bước vào một căn phòng để gặp người khác, rồi nắn mạnh hai má để làm cho chúng sung huyết, từ đó tạo ra làn da hồng hào.

Những sản phẩm làm đẹp được quét tô nói trên đa số có chất nền là khoáng, chứa lượng lớn các thành phần độc hại như chì, thủy ngân, mangan, đồng, arsen, lưu huỳnh, v.v. Có thể tưởng tượng, sau khi sử dụng lâu dài, chắc chắn sẽ dẫn đến ngộ độc. Chỉ là trước thời kỳ Phục Hưng, châu Âu không có khái niệm y học xứng đáng, nên hiếm khi có ghi chép về ngộ độc do trang điểm gây ra. Đến thế kỷ 18, y học hiện đại bắt đầu nảy sinh, trang điểm làm đẹp đang phát triển mạnh mẽ, những trường hợp bệnh và tử vong do mỹ phẩm gây ra dần dần được chú ý.

Năm 1869, Hiệp hội Y học Mỹ công bố một bài báo cáo: "Ba trường hợp tê liệt ngộ độc chì do sử dụng mỹ phẩm có tên 'Hoa tuổi trẻ'". Các triệu chứng của bệnh nhân bao gồm mệt mỏi, gầy sút, buồn nôn, đau đầu, teo cơ, tê liệt, v.v., những biểu hiện điển hình của ngộ độc chì kết hợp với bệnh thần kinh ngoại biên. Đây không phải là sự cố đơn lẻ. Do sử dụng các sản phẩm làm đẹp đa dạng, những báo cáo về bệnh và tử vong liên tục xuất hiện, tuy nhiên giám sát và kiểm soát thành phần mỹ phẩm mới trở thành hiện thực sau nhiều năm. Ngay cả đến bây giờ, các thành phần độc hại trong mỹ phẩm cũng chưa hoàn toàn biến mất.

Mong muốn của con người về vẻ đẹp là vô tận. Chỉ sở hữu một khuôn mặt trắng sáng xinh đẹp thôi thì nhiều người vẫn không thỏa mãn. Một khuôn mặt xinh đẹp nếu không được "trang bị" một đôi mắt to quyến rũ thì thật là uổng công. Đặc biệt là phụ nữ, sở hữu những con ngươi vô cùng lớn luôn được coi là có tác dụng mê hoặc. Trong truyện tranh Nhật Bản, những cô gái xinh đẹp đều có đôi mắt to một cách không hợp lý, và phụ nữ hiện đại đua nhau đeo kính áp tròng có màu là minh chứng rõ ràng. Phụ nữ thời cổ đại không có kính áp tròng để sử dụng, nếu muốn trở thành "cô gái mắt to", thì kỹ thuật này không đơn giản như quét phấn trang điểm trên mặt.

Có một loại thực vật gọi là Belladonna (Atropa Belladonna), là một loại cỏ họ Cà chua, toàn bộ cây có độc, bao gồm lá và quả. Các thành phần độc chính bao gồm atropine, scopolamine, và hyoscyamine. Tác dụng dược lý của những thành phần này là ức chế acetylcholine trong hệ thần kinh, có độc tính rất lớn với cơ thể con người. Lịch sử ghi chép rất nhiều người tử vong vì ăn nhầm quả của Belladonna, và từ thời cổ đại, nó đã được sử dụng làm chất độc để hại người.

Dưới liều lượng chí mạng, Belladonna sẽ gây ra các triệu chứng chống acetylcholine như: con ngươi giãn rộng, mắt mờ, tim đập nhanh, đau đầu, chảy máu mũi, miệng khô, khó tiểu tiện, nói không rõ, đi lại không vững, ý thức lộn xộn, ảo giác, v.v. Loại chất độc dữ dội này cũng bị những người yêu sắc đẹp phát hiện và khai thác. Vì nó gây ra giãn rộng con ngươi, nên trong thời kỳ Phục Hưng ở châu Âu, việc sử dụng Belladonna để chế nước rửa mắt trở nên phổ biến, dùng cho những phụ nữ xinh đẹp và không xinh đẹp của lúc đó sử dụng, nhỏ vào mắt của chính mình để tự tạo hiệu ứng mắt to.

Những trường hợp phụ nữ ngộ độc vì sử dụng loại nước rửa mắt này thường xuyên cũng rất phổ biến vào lúc đó. Thực tế, tên gọi "Belladonna" của loài thực vật này chính là do cách sử dụng kỳ lạ này mà đặt ra. "Belladonna" được tạo thành từ hai từ Ý "bella" và "donna", "bella" có nghĩa là "xinh đẹp", còn "donna" là "phụ nữ", "bella donna" có nghĩa là "cô gái xinh đẹp" hoặc "tiểu thư". Do đó, chúng ta hoàn toàn có thể gọi Belladonna là "chất độc của người đẹp" hoặc "độc nhan nhân".

Sự kiện lịch sử chứng minh rằng tưởng tượng và sáng tạo của con người không có giới hạn, đặc biệt là khi nhằm mục đích nâng cao vẻ đẹp của chính mình hay những vẻ đẹp trong tưởng tượng, chúng phát huy một cách rất đầy đủ. Vào thời cổ đại, trước khi có y học thực sự, con người đã quét các chất độc khác nhau trên da cơ thể để thay đổi màu da và thêm màu sắc cho khuôn mặt, từ đó tạo ra nhiều vấn đề y học.

Sau khi y học hiện đại khởi sắc, con người bắt đầu hiểu rõ hơn về cách khai thác tác dụng sinh lý của các loại thuốc và chất độc, mục đích là để nâng cao vẻ đẹp của mình cũng như tăng cơ hội ngộ độc. Đến hiện đại, với sự trưởng thành và phổ cập của công nghệ y học, chúng ta cuối cùng cũng có được công cụ để thay đổi ngoại hình bản thân một cách triệt để hơn, thẩm mỹ y học cũng ra đời theo đó. Tuy nhiên, có một điều sẽ không bao giờ thay đổi, đó là bất kể thời đại nào, muốn có được vẻ đẹp đều phải trả giá.

Cuốn sách này được trích từ bộ sách "Những điều kỳ diệu về y học: Những câu chuyện y học lật đổ nhận thức từ xưa đến nay, những trang ghi chép riêng tư của một bác sĩ thần kinh chuyên thoáng qua giữa phòng khám và các hồ sơ lịch sử, những bí mật cơ thể, nguồn gốc bệnh tật, các giai thoại y tế mà bạn chưa biết..." được xuất bản bởi Nhà xuất bản Mạch Điền.

Đây là một cuốn sách kể chuyện.

Nhiều bộ phận trên cơ thể chúng ta hóa ra đều có liên quan đến các câu chuyện truyền thuyết.

– Ngày nay đơn vị chiều dài ở Âu Mỹ là "foot", tiếng Anh cũng là "foot", và tiếng Anh cho chân cũng là "foot". Tại sao? Bởi vì vào thời cổ đại châu Âu, kể cả Anh, con người thực sự sử dụng độ dài bàn chân của một người làm một đơn vị đo lường.

– Vào thời kỳ Phục Hưng, ở các thành phố lớn như London, Paris, Amsterdam và những nơi khác, các trường y tế rộng rãi có "sân khấu giải phẫu". Mỗi lần có buổi giải phẫu xác chết, thường có hàng trăm người vào xem.

– Bác sĩ thời cổ đại châu Âu bất kể gặp bệnh nhân gì cũng lấy máu không chút do dự. George Washington chỉ vì bị cảm lạnh mà bị bác sĩ nổi tiếng lúc đó lấy máu cho đến chết. Còn có những cách điều trị kỳ quặc khác như ăn "bữa ăn giun sán" để duy trì vóc dáng; tin rằng nếu bệnh nhân ăn hoặc quét một phần xác chết, có thể hấp thụ "sức mạnh tâm linh" từ đó – cái gọi là "liệu pháp xác chết"...

Trong quá trình dài của sự giao thoa giữa văn hóa và y học, ta tích lũy được nhiều dấu ấn thú vị hay biểu tượng. Dấu tích của y học và bệnh tật không chỉ xuất hiện ở bệnh viện, sách giáo khoa, hay lịch sử y học. Trong lịch sử, nghệ thuật và văn học, ta cũng thường có thể nhìn thấy manh mối của chúng. Nhà sánh xét những câu chuyện về y tế có tài nhất – bác sĩ thần kinh kỳ cựu Uông Hán Trừng ghi chép những bí mật cơ thể, nguồn gốc bệnh tật, các giai thoại y tế mà chúng ta không biết...