Đối với nhiều người Đài Loan từng trải qua thời kỳ Nhật trị, "bị điều động sang Nam Dương làm lính vận tải" là một ký ức sống còn vô cùng quan trọng và không thể quên lãng. Chúng ta sống trong thời bình, có thể khó tưởng tượng rằng trong thời chiến, những thanh niên trong độ tuổi 20 đến 40 lần lượt bước vào con đường mưa máu không biết sẽ sống hay chết. Họ có thể là thành viên gia đình, hàng xóm của bạn, người đã từ biệt với thân nhân, hoặc chính bản thân bạn là một "lính vận tải đế quốc vinh dự" với tương lai mù mịt.

Lính vận tải An Bình Hạ Dã Thịnh từ năm 1937 đã bị các binh chủng khác triệu tập. Ảnh cho thấy Hạ Dã Thịnh mặc quân phục do quân bộ phát hành, chụp trước khi quay về Đài Loan từ Hải Nam (Nguồn: Kho lưu trữ ký ức văn hóa quốc gia / CC BY-NC)

Lính vận tải và quân thuộc là gì?

Ban đầu, theo quy định của quân bộ Nhật Bản, chỉ có sự phân biệt giữa quân nhân và quân thuộc. Từ góc độ cấp bậc, từ trên xuống lần lượt là: quân nhân, quân ngựa, quân chó, quân chim bồ câu, quân thuộc, lính vận tải. Nói cách khác, "quân thuộc" là những người được thuê với tư cách nhân sự không chính quy cho quân đội, chia thành ba cấp bậc: "nhân viên văn phòng", "nhân viên lao động", "người hầu", chuyên xử lý các công việc phục vụ trong quân đội. Còn "lính vận tải" hoàn toàn nằm ngoài hệ thống quân đội chính quy, có nhiệm vụ vận chuyển lương thực, đạn dược và các vật tư quân sự khác trên chiến trường.

Để giải thích một cách đơn giản hơn về điểm giống nhau giữa "lính vận tải" và "quân thuộc", thì cả hai đều có địa vị thấp hơn cả quân ngựa, quân chó, quân chim bồ câu của đế quốc Nhật Bản, và không được coi là quân nhân chính quy.

Tuy nhiên, về mặt lương bổng, cả lính vận tải và quân thuộc đều được trả lương khá cao. Lính vận tải nhận được khoảng 30 yên mỗi tháng, quân thuộc nhận từ 30 đến 150 yên tùy theo cấp bậc. Lúc đó, cảnh sát chỉ nhận 30 yên mỗi tháng, lính hạ sĩ hải quân và quân đội chỉ nhận 6 yên. Điều này cho thấy ngay cả lính vận tải ở cấp bậc thấp nhất cũng được trả cao hơn quân nhân chính quy, điều này cung cấp một góc nhìn khác về chính sách "cưỡng chế" lính vận tải và quân thuộc của chính quyền thực dân - thực tế là nhiều người đã "tự nguyện" trở thành lính vận tải hoặc quân thuộc vì lý do kinh tế.

Nói chung, với tư cách là thuộc địa của đế quốc Nhật Bản, các lính vận tải và quân thuộc Đài Loan đều bị động viên hàng loạt sau khi cuộc chiến tranh Trung-Nhật nổ ra năm 1937, với nhiệm vụ chính là vận chuyển lương thực, đạn dược và các vật tư quân sự khác.

Khi Nhật Bản mở rộng mặt trận đối ngoại, Tổng đốc Đài Loan bắt đầu tổ chức có hệ thống các nhóm có kỹ năng đặc biệt, chẳng hạn như "Đoàn tình nguyện nông nghiệp", "Đoàn hướng dẫn nông nghiệp hành quân", "Đoàn nông nghiệp đặc biệt Đài Loan", "Đoàn dịch vụ lao động đặc biệt Đài Loan", "Đoàn lao động đặc biệt Đài Loan", "Đoàn xây dựng đặc biệt Đài Loan" và nhiều loại khác. Những lính vận tải loại này thường có thời hạn phục vụ một năm, nhưng nếu gặp chấn thương hoặc tàn tật, một số lính vận tải và quân thuộc có thể được phép trở về quê hương trị liệu sớm. Tất nhiên, cũng có những trường hợp do giao thông bị cắt đứt vì chiến sự, những người này phải lưu lại ngoài nước trong thời gian dài.

Sau khi Thế chiến Thái Bình Dương nổ ra năm 1941, mặt trận của Nhật Bản cũng dần chuyển sang khu vực Nam Dương. Do nhu cầu nhân sự quân sự ngày càng tăng, những "lính vận tải Nam Dương" - sâu đậu trong ký ức lịch sử của nhiều người Đài Loan - phần lớn được triệu tập trong giai đoạn này. Cùng thời kỳ được cử đi, còn có "Quân tình nguyện Gaoshan" - cũng sâu đậu trong ký ức lịch sử người Đài Loan. Trường hợp nổi tiếng nhất có lẽ là Sử Ni Dục Vô, được phát hiện trong rừng rậm Indonesia năm 1974.

Sử Ni Dục Vô sinh ra ở bộ lạc Lịch Bộ, Thành công Đông, Đài Đông. Thời bé, anh học tại Trường công Lịch Bộ, vì giỏi bóng chày nên từng đại diện Đài Đông tham dự giải đấu bóng chày tại Đài Bắc. Tháng 10 năm 1943, Sử Ni Dục Vô được biên chế vào Quân tình nguyện Gaoshan với tên là "Nakamura Teruo". Sau đào tạo ngắn hạn, anh được cử đi chiến đấu ở Indonesia. Do bị thất lạc khỏi đơn vị trong quá trình chiến đấu, từ tháng 11 năm 1944 trở đi, Sử Ni Dục Vô sống độc thân trên đảo Morotai của Indonesia. Không biết rằng Thế chiến thứ hai đã kết thúc năm 1945, Sử Ni Dục Vô vẫn kiên trì bám trcanhgácị cho đến tháng 12 năm 1974 mới được phát hiện. Ngày 8 tháng 1 năm 1975, anh quay trở về Đài Loan, được Chủ tịch tỉnh Đài Loan Tạ Đông Mẫn tiếp đón theo nghi thức cấp cao, và sau đó đổi tên thành "Lý Quang Huy".

Đáng chú ý rằng, "Nam Dương" theo khái niệm lúc bấy giờ không hoàn toàn chỉ khu vực Đông Nam Á như chúng ta hiểu ngày nay. Trong Thế chiến thứ hai, "Nam Dương" rộng lớn còn bao gồm Tây Nam Thái Bình Dương và Nam Thái Bình Dương, chẳng hạn như lính vận tải Đài Loan từng bị cử tới xa nhất đó là quần đảo Solomon ngày nay ở Thái Bình Dương.

Mộ mười hai lính vận tải An Bình và thế hệ đầy mâu thuẫn

Đợt triệu tập lính vận tải đầu tiên của Tổng đốc Đài Loan xảy ra khoảng một tháng sau sự kiện cầu Lỗ Gou (khoảng tháng 9 năm 1937), được cho là vì mặt trận Thượng Hải thiếu các đơn vị hậu cần và bổ cấp. Trước tình hình chiến sự tình nguyện ở vùng Trung Quốc, Tổng đốc Đài Loan nhận lệnh điều động nhân sự. Như vậy, tổng cộng 850 lính vận tải bị triệu tập, trong đó hơn một nửa (khoảng 450 người) đến từ An Bình, Đài Nam.

Theo lời kể của các cụ, tháng 8 năm 1937, trưởng khu An Bình Shimazu Hidetaro đã gợi ý với Sở Thành phố Đài Nam việc triệu tập nhân lực từ khu An Bình nhằm chứng minh thành công của chương trình hoàn tục hóa hoàng dân ở An Bình. Trùng hợp với sự nổ ra của cuộc chiến tranh Trung-Nhật, nên lẽ ra phải dùng cái tên "quân bộ Nhật Bản cần gấp nhân công lao động", "những người được tuyển sẽ nhận 1,5 yên mỗi ngày" để tuyên truyền. Vì lương cao hơn bình thường gấp đôi, ngày kiểm sức khỏe sáng sớm, có rất nhiều người tập trung đến Liên đoàn 2 Đài Nam (nay là Đại học Thành công) để đăng ký.

Sau bữa tối, quân bộ yêu cầu tất cả mọi người đổi quân phục và thông báo: sáng hôm sau sẽ lên tàu đến Cảng Keelung, vì lo sợ tin tức rò rỉ nên không được từ biệt gia đình, quân bộ sẽ thông báo cho gia quyến.

Cho đến lúc này, mọi người mới nhận ra chuyến đi này không phải công việc lao động đơn thuần. Họ nhìn nhau, nhưng không thể thay đổi số phận sắp bước chân lên chiến trường Trung Quốc.

Những lính vận tải An Bình tiếp tục theo đơn vị quân đội Nhật tiến lên, từ thị trấn Thượng Hải La Điêm → Thượng Hải → Gia Định → Trấn Giang → Vô Tích → Kiêng Âm → An Khánh → Cửu Giang, cuối cùng đến Vũ Hán. Nhóm lính vận tải và quân thuộc này, với tư cách là nhân sự quân đội đế quốc Nhật, đã tham gia "Trận chiến Vũ Hán" nổi tiếng.

Từ Hồng Thanh Sơn (17 tuổi) trẻ nhất đến Trần Dưỡng (50 tuổi) lớn tuổi nhất, độ tuổi chênh lệch tới 33 tuổi, điều này cũng phản ánh tính vội vã của chính quyền thực dân khi triệu tập lính vận tải An Bình năm 1937. So đối địa điểm chết và nguyên nhân chết của lính vận tải An Bình, cũng không khó suy đoán lộ trình di chuyển và tổn thất của quân đội Nhật Bản trong giai đoạn đầu cuộc chiến tranh Trung-Nhật.

Tiếp tục logic suy ngẫm này, mặc dù quá trình triệu tập khá vội vã, nhưng với tư cách là nhóm lính vận tải đầu tiên từ thuộc địa, trong 450 lính vận tải An Bình có nhiều trường hợp cha con, chú cháu, anh em bị triệu tập cùng nhau. Làm thế nào để mô tả hình ảnh "yêu nước" của lính vận tải, quân thuộc trung thành bộc lộ nhiệm vụ, hi sinh anh hùng trên chiến trường trở thành vấn đề quan trọng nhất lúc bấy giờ.

Chúng ta có thể thấy từ báo chí sau năm 1937 ngày càng nhiều bài viết về "lính vận tải yêu nước". Chẳng hạn, tờ Asahi Shimbun từng dùng bài viết có tiêu đề "Khi chiều tà buồn, con trai thiêu cha, cha con cùng nhập ngũ, cái chết của lính vận tải gốc Đài Loan" để miêu tả tấm lòng trung thành của Trần Dưỡng và con trai Trần A Vân:

Lúc này, chỉ huy đơn vị chỉ tay vào người thanh niên bên cạnh nói: "Thanh niên này là con trai lớn của Trần Dưỡng đã mất, tên là Trần A Vân (20 tuổi). Nhìn anh ấy, không rơi nước mắt nào, có can đảm thiêu cha trên vùng hoang dã này..."

Cái chết của Trần Dưỡng không có tiếc nuối, ông và con trai A Vân dù bị bệnh qua đời cũng tự nguyện ở lại vợ con để cùng nhau lên đường, vì "cơ hội để đền ơn Hoàng đế đã cuối cùng đến".

Trước khi qua đời, Trần Dưỡng gọi A Vân lại, nói với vẻ mặn chứa:

"Chết vì bệnh thật xin lỗi. Sau khi tôi chết, con phải gánh vác phần của tôi lẫn phần của con để bảo vệ đất nước. Được chết dưới sự chăm sóc của con trai của mình, tôi chết mà không có tiếc nuối."

Ngoài các bài viết trên báo chí về lòng yêu nước của lính vận tải và quân thuộc, các nghi thức tưởng niệm do chính quyền thực dân tổ chức ở các phố phường là một chỉ báo truyền bá quan trọng khác. Năm 1938, khu vực An Bình liên tiếp tổ chức các nghi thức "chôn cất theo phố", "chôn cất theo thành phố", "chôn cất theo liên đoàn" để tưởng niệm các lính vận tải An Bình hi sinh. Chính vì lính vận tải An Bình là nhóm lính vận tải thuộc địa đầu tiên hi sinh cho đế quốc Nhật Bản trong thời chiến nên ý nghĩa đặc biệt, từ cấp địa phương đến cấp quân đội đều tranh thủ tổ chức các nghi thức tưởng niệm, điều này không khó hiểu.

Do không thể chuyên chở toàn bộ hài cốt về Đài Loan trong thời chiến, ngoài tro cốt của những kẻ chết trận, việc dùng áo quần thế chỗ cốt hài rất phổ biến. Ngày 7 tháng 5 năm 1938, lễ chôn cốt được tổ chức tại An Bình, tờ Đài Loan Nhật Nhật Báo dùng tiêu đề to đậm "Nghi lễ chôn cốt Chín Anh Hùng" để ghi chép nghi thức xảy ra ở làng cá nhỏ trên bờ biển Đài Nam. Trong bài viết, cũng không quên nhấn mạnh lại tấm lòng anh hùng của mỗi lính vận tải khi chết trận vì nước.

Ký ức lịch sử bị che dấu trong ồn ào

Một số người từng làm lính vận tải, quân thuộc thời kỳ Nhật trị, sau năm 1945 khi chính phủ Quốc dân Đảng đến Đài Loan, lại bị triệu tập lần thứ hai đến đại lục Trung Quốc để hỗ trợ cuộc Nội chiến Trung-Quốc. Đối với những thế hệ này, cảm xúc sâu sắc nhất không chỉ là những vết scar chiến tranh trên thân thể mà còn là sự khác biệt văn hóa khi sống dưới hai chế độ thống trị khác nhau.

Hơn thế nữa, họ phải suy ngẫm: bản thân mình rốt cuộc là ai? Nên phục vụ ai?

Mặc dù hàng năm trước và sau Lễ Thanh Minh vẫn có các hiệp hội địa phương tổ chức hoạt động tưởng niệm, nhưng câu chuyện "Mười hai lính vận tải An Bình" dường như cũng giống như những chữ khắc phía sau bia mộ, dần dần mờ nhạt trong sự im lặng. Có lẽ, những kho tàng văn hóa tích lũy từ lâu này vẫn đang yên tĩnh chờ đợi vị "bậc thầy quá muộn" đó.

Kể từ năm 2010, mỗi dịp Lễ Thanh Minh sẽ mời các lính vận tải và thân nhân cùng tham gia hoạt động tưởng niệm Nghi lễ lính vận tải An Bình.

Tháng 11 năm 2016, Tổng thống Thái Anh Văn lần đầu tiên với tư cách nguyên thủ quốc gia, tham gia hoạt động tưởng niệm do Bảo tàng Chủ đề Chiến tranh và Hòa bình tại Kỳ Tân, Cao Hùng tổ chức. Bảo tàng này có thể coi là khu triển lãm duy nhất trên toàn đảo dành cho binh sĩ Đài Loan dưới thời Nhật Bản. Nó không chỉ lưu giữ tài liệu phong phú về binh sĩ Đài Loan dưới thời Nhật Bản mà còn nỗ lực cùng với các hiệp hội địa phương tổ chức hội thảo học thuật liên quan đến chủ đề chiến tranh hàng năm, đồng thời định kỳ tổ chức các nghi lễ tưởng niệm binh sĩ Đài Loan dưới thời Nhật Bản.

Quá trình những người Đài Loan lên đường phục vụ các chế độ khác nhau này chính là minh chứng cho hoàn cảnh phức tạp của người Đài Loan dưới sự cai trị của mỗi chế độ. Liệu những câu chuyện này có bị cuốn vào dòng nước lịch sử hay không, có lẽ phụ thuộc vào cách chúng ta nhìn nhận "quá khứ" và liệu chúng ta có sẵn sàng bắt đầu từ "Đài Loan" để đối diện với ký ức lịch sử dần xa dần hay không.