AI trong y tế, khúc triết học quanh công nghệ phòng chống dịch
Dữ liệu sức khỏe lớn, trí tuệ nhân tạo (AI) đã trở thành chiếc thánhly mới trong nghiên cứu y tế. COVID-19 càng đẩy công nghệ AI lên sân khấu phòng chống dịch, khi các quốc gia lần lượt kết nối dữ liệu lớn để giám sát dấu chân hoặc triển khai hàng rào điện tử. Nhưng khi công nghệ phòng chống dịch can thiệp vào y tế công cộng, liệu chúng ta có vô tình nhượng bộ quyền riêng tư cá nhân? Phó nghiên cứu viên tại Viện Nghiên cứu Âu Mỹ, Viện Hàn lâm Sinica, Hà Chi Hành cho rằng, tiêu chuẩn không hoàn thiện là nỗi lo lớn trong bảo vệ dữ liệu cá nhân tại Đài Loan. Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân ra đời sớm hơn thời đại AI, định nghĩa khử nhận dạng không rõ ràng, thiếu cơ quan giám sát độc lập - tất cả đều là những vấn đề hiện tại.
"Lưới trời" - vũ khí sắc bén mới của y tế công cộng
Kể từ năm 2020 khi đại dịch COVID-19 bùng nổ, toàn thế giới hợp tác quy mô lớn để ứng phó khủng hoảng. Từ bảng điều khiển thống kê thời thực, dự đoán cấu trúc protein virus đến giám sát điện tử, dữ liệu lớn và AI cùng được áp dụng. Nhưng khi công nghệ số can thiệp vào hệ thống y tế công cộng và sức khỏe, cũng nảy sinh tranh luận về nhân quyền và quyền riêng tư.
Trong đêm cuối năm 2020, Đài Loan lại ghi nhận ca lây nhiễm cộng đồng. Trung tâm chỉ huy ứng phó dịch bệnh cảnh báo rằng những người cách ly tại nhà, theo dõi sức khỏe chủ động không nên tham gia các sự kiện đón năm mới quy mô lớn. Hơn nữa, đừng nơm nớp hy vọng vì "lưới trời" - "chúng tôi sẽ tìm thấy bạn"! Hàng rào điện tử phiên bản 2.0 vừa được triển khai, nhiều người vỗ tay hoan nghênh, nhưng cũng châm ngòi những lo ngại nhạy cảm về giám sát quyền riêng tư của nhà nước.
Tranh cãi về quyền riêng tư không chỉ diễn ra trong chiến trường chống dịch. Ví dụ khác là xu hướng y tế chính xác được yêu thích gần đây. Tháng 1 năm 2021, Tạp chí Kinh tế xuất bản chỉ số "Y tế được cá nhân hóa" tại khu vực Á Thái Bình Dương. Đài Loan đoạt giải á quân, nhờ vào hệ thống bảo hiểm y tế hoàn thiện, cơ sở dữ liệu ung thư và công nghệ thông tin tiên tiến.
Quốc tế khen ngợi, nhưng phản ứng trong nước lại rất phân cực. Trước đây, có người chất vấn về bảo vệ quyền riêng tư của "dữ liệu sinh học cá nhân", lo ngại nó sẽ trở thành dữ liệu lớn của các công ty dược. Nhưng mặt khác, một số nhà nghiên cứu y tế lại phàn nàn rằng Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân quá nghiêm ngặt, quá cản trở, gây trở ngại lớn cho nghiên cứu y tế. Tại sao phản ứng trong nước lại khác biệt như vậy?
Phó nghiên cứu viên Hà Chi Hành tại Viện Nghiên cứu Âu Mỹ, Viện Hàn lâm Sinica cho rằng, một phần nguyên nhân là Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân triển khai từ năm 2012, sớm hơn thời đại AI. Nếu chỉ dựa vào quy định hiện tại, việc ứng phó với công nghệ mới có thể không còn phù hợp.
Vụ kiện cơ sở dữ liệu bảo hiểm y tế: Ai được phép tái sử dụng dữ liệu bệnh án của chúng ta?
Hãy xem xét vụ "kiện cơ sở dữ liệu bảo hiểm y tế" từng gây xôn xao.
Năm 2012, Hiệp hội Thúc đẩy Nhân quyền Đài Loan và các tổ chức xã hội khởi kiện hành chính, chất vấn chính phủ không có sự đồng ý của nhân dân, không có ủy quyền pháp lý mà tự ý cung cấp dữ liệu bảo hiểm y tế cho các đơn vị nghiên cứu y tế. Điều này có nghĩa là người bình thường hoàn toàn không biết hồ sơ bệnh của mình bị tái sử dụng, xâm phạm quyền tự quyết về thông tin. Mặc dù vụ kiện bị thua năm 2017, nhưng đã đưa đến tiến hành thẩm phán cấp cao.
Các tổ chức xã hội chỉ trích rằng, theo Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân, nếu là tái sử dụng ngoài mục đích sưu tầm ban đầu, phải có sự đồng ý của người liên quan. Dữ liệu bảo hiểm y tế ban đầu được sưu tầm để kiểm toán phí bảo hiểm, không phải để cung cấp cho nghiên cứu y tế.
Nhưng những người ủng hộ lại cho rằng, cơ sở dữ liệu bảo hiểm y tế là dữ liệu sức khỏe lớn quý giá. Nếu có thể kết nối để cung cấp cho nghiên cứu học thuật và y tế, sẽ phù hợp hơn với lợi ích công cộng. Hơn nữa, nếu phải lấy lại sự đồng ý từ toàn bộ nhân dân cho tất cả dữ liệu trong quá khứ, các nghiên cứu liên quan có thể bị buộc phải dừng.
Các tranh cãi này làm cho đường ranh đỏ giữa nghiên cứu y tế và bảo vệ thông tin trở nên mờ nhạt và e ngại. Hà Chi Hành chỉ ra rằng, sự cân bằng giữa "quyền lợi cá nhân" và "lợi ích công cộng" không chỉ là vấn đề mà các triết gia chính trị quan tâm từ lâu, mà còn phản ánh lõi của suy tư đạo đức y tế công cộng hiện đại.
Liệu chúng ta có quyền từ chối cung cấp dữ liệu cho nghiên cứu y tế? Khi các bước chân của y tế chính xác tiến nhanh hơn, chúng ta phải cân bằng như thế nào giữa thúc đẩy công nghệ y tế mà không bỏ qua quyền riêng tư cá nhân?
"Y tế chính xác" và "Sức khỏe chính xác" là những xu hướng phát triển y tế quan trọng gần đây. Thông qua dữ liệu sức khỏe lớn để đánh giá tình trạng sức khỏe cá nhân, trị liệu đúng bệnh. Nhưng dữ liệu sức khỏe liên quan đến quyền riêng tư cá nhân, cách cân bằng giữa bảo vệ bí mật và tự quyết định trở thành vấn đề quan trọng khác.
Điểm tranh cãi khử nhận dạng: Dữ liệu cá nhân nên được "che mờ" đến mức độ nào?
Hà Chi Hành cho rằng, "tranh cãi cơ sở dữ liệu bảo hiểm y tế" ngắn hạn có thể bắt đầu từ một số nguyên tắc, xác định tiêu chuẩn sử dụng dữ liệu, bao gồm: cho phép quyền rút lui (opt-out), định nghĩa khử nhận dạng (de-identification).
"Khử nhận dạng" là một biện pháp bảo vệ an toàn. Nói đơn giản: làm cho dữ liệu không thể liên kết, nhận ra được người thực sự đứng phía sau. Hà Chi Hành đặc biệt chia sẻ bài học đau đớn của DeepMind, công ty phát triển trí tuệ nhân tạo thuộc Google.
Năm 2017, thỏa thuận giữa DeepMind và Bệnh viện Hoàng gia Anh bị công bố. DeepMind nhận được 1,6 triệu bản ghi hồ sơ bệnh án để phát triển ứng dụng sức khỏe chẩn đoán suy thận cấp tính. Dự án nghe có vẻ với ý tốt, nhưng lại gây ra cuộc tranh cãi lớn. Nguyên nhân là chia sẻ dữ liệu không chỉ không có sự đồng ý bệnh nhân, mà còn hoàn toàn không khử nhận dạng dữ liệu. Lịch sử bệnh, dùng thuốc, bí mật khám chữa bệnh của mỗi người đều bị phơi bày! Vụ tranh cãi này quả thực là bài học lớn, gây tổn hại nặng nề đến sự tin tưởng của xã hội Anh đối với mở dữ liệu.
Quay lại bối cảnh Đài Loan. Khử nhận dạng đề cập đến việc sử dụng mã hóa, ẩn danh, che giấu một phần dữ liệu cá nhân hoặc những cách khác để không thể nhận ra người cụ thể. Nhưng phải đạt tới mức độ giấu giếm nào thì mới coi là không thể nhận ra người cụ thể?
Hà Chi Hành chỉ ra rằng, định nghĩa trong Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân không rõ ràng, trộn lẫn các khái niệm ẩn danh hóa (anonymous), giả danh hóa (pseudonymised), huỷ liên kết (delink) với các tiêu chuẩn bảo vệ khác nhau. Đài Loan cũng chưa có định nghĩa rõ ràng về tiêu chuẩn khử nhận dạng, trở thành điểm tranh cãi.
Quy định hiện tại để lại không gian mờ nhạt, vậy thì kinh nghiệm từ nước ngoài có thể cung cấp tham khảo?
Lấy Luật Sức khỏe Có thể Mang theo của Mỹ (HIPAA) làm ví dụ, luật quy định loại bỏ 18 loại mã định danh cá nhân là tiêu chuẩn khử nhận dạng. Liên minh Châu Âu thì trực tiếp nêu rõ trong Quy tắc bảo vệ dữ liệu chung rằng dữ liệu cá nhân giả danh hóa vẫn là dữ liệu cá nhân.
Quyền rút lui: Giữ quyền nói "không" của nhân dân
Hướng khác để giải quyết tranh cãi là: cho phép quyền rút lui, để cá nhân giữ lại quyền rút khỏi cơ sở dữ liệu. Dù bảo hiểm y tế không có sự đồng ý trước (opt-in) của nhân dân, vẫn có thể cung cấp lựa chọn rút lui sau đó. Nhân dân có cơ hội quyết định xem có cung cấp dữ liệu sức khỏe cho nghiên cứu học thuật hoặc sử dụng thương mại hay không.
Hà Chi Hành lại lấy cách làm của Dịch vụ Y tế Quốc gia Anh (NHS) làm ví dụ: người dân Anh có hai giai đoạn lựa chọn rút lui khỏi cơ sở dữ liệu trung tâm (NHS Digital). Thứ nhất là từ đầu từ chối cho bác sĩ gia đình tải lên dữ liệu khám chữa bệnh của mình lên NHS Digital. Thứ hai là sau khi dữ liệu được tải lên, vẫn có thể từ chối khi dữ liệu được chia sẻ cho bên thứ ba sử dụng. Sở dĩ như vậy vì có người sẵn sàng cung cấp dữ liệu sức khỏe cá nhân vì mục đích công ích và học thuật, nhưng lại từ chối mục đích thương mại. Cũng có người cho rằng chỉ cần không thể nhận ra cá nhân là được.
Gần đây, chính phủ Anh nỗ lực giao tiếp với công chúng, hi vọng nhân dân nhận thức được lợi ích chung của chia sẻ dữ liệu, đồng thời giải thích chi phí xã hội mà quyền rút lui mang lại, khuyến khích mọi người ở lại trong cơ sở dữ liệu, hưởng lợi từ y tế chính xác. Có thể thấy chính phủ Anh thông qua giao tiếp công cộng, cố gắng xây dựng sự tin tưởng xã hội.
Tham khảo kinh nghiệm Anh, tỷ lệ người chọn rút lui hiện tại khoảng 2,6%. Giữ lại quyền rút lui ở mức độ nào đó cho nhân dân, nhưng tốt thực hiện giao tiếp công cộng, là một cách cân bằng lợi ích tập thể và quyền riêng tư.
Bốn nguyên tắc bảo vệ dữ liệu cá nhân GDPR của Liên minh Châu Âu
Cơ sở dữ liệu bảo hiểm y tế chỉ là một ví dụ. Khi AI trở thành gia tốc độ dưới làn sóng dữ liệu lớn, giải pháp toàn diện nhất vẫn là đặt ra quy định mới cho sử dụng dữ liệu trong thời đại AI. Quy tắc bảo vệ dữ liệu chung (General Data Protection Regulation, GDPR) của Liên minh Châu Âu triển khai năm 2018 là chỉ báo quan trọng cho bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thời đại dữ liệu lớn và AI.
Đối ứng với sự thay đổi của thời đại dữ liệu lớn và AI, Liên minh Châu Âu thông qua GDPR năm 2016, chính thức triển khai năm 2018, được mệnh danh là "luật bảo vệ dữ liệu cá nhân nghiêm ngặt nhất trong lịch sử". Nó bao gồm ID thiết bị di động, tôn giáo, đặc điểm sinh học, xu hướng tình dục đều được đưa vào phạm trù dữ liệu cá nhân được bảo vệ.
Liên minh Châu Âu đã xem xét sử dụng AI trong giai đoạn ban hành pháp lệnh, đặt ra bốn nguyên tắc bảo vệ dữ liệu cá nhân: nguyên tắc mục đích cụ thể, tối thiểu hóa dữ liệu, minh bạch và nguyên tắc trách nhiệm.
Trong đó, "mục đích cụ thể" và "tối thiểu hóa dữ liệu" đều yêu cầu sưu tầm, xử lý, sử dụng dữ liệu phải nằm trong phạm vi cần thiết của mục đích cụ thể, tức là chỉ cung cấp dữ liệu "tuyệt đối cần thiết".
Tuy nhiên, điều này rõ ràng xung đột với đặc tính của sử dụng dữ liệu lớn cần dựa vào dữ liệu lớn!
Quá trình phân tích dữ liệu lớn thường sưu tầm dữ liệu rộng lớn hoặc thậm chí không có "mục đích cụ thể". Phạm vi áp dụng sau khi phân tích dữ liệu cũng có thể vượt quá mục tiêu đặt ra ban đầu. Do đó, cách xác định cụ thể "mục đích cụ thể" và "phán xét tương thích" của tái sử dụng tiếp theo trở nên khá quan trọng. Điều này cũng nêu bật nguyên tắc "minh bạch" nhấn mạnh bổn phận tự công khai (self-disclosure). Khi người sưu tầm trở thành người kiểm soát dữ liệu chính, họ có trách nhiệm giải thích thêm cách thức các quyết định hoàn toàn tự động hóa được hình thành.
"Nguyên tắc minh bạch nhằm xây dựng sự tin tưởng," Hà Chi Hành bổ sung. Bà lấy ví dụ, Zhi Ma (Sesame Credit) thuộc tập đoàn Alibaba của Trung Quốc, đã phát huy ứng dụng của các quyết định tự động hóa dựa trên thuật toán rất toàn diện, thậm chí Liên minh Châu Âu cấp visa Schengen cũng tham khảo nó. Tuy nhiên, tất cả những người được đưa vào hệ thống đánh giá lại không thể biết hệ thống thuật toán khổng lồ này hoạt động như thế nào, cũng không biết tại sao điểm tín dụng của mình lại như vậy.
Zhi Ma cho biết hệ thống sẽ tiến hành đánh giá điểm tín dụng của mỗi người dựa trên năm loại dữ liệu: đặc điểm nhân thân, lịch sử tín dụng, mạng lưới mối quan hệ, sở thích hành vi, khả năng thực hiện. Điểm số nằm trong khoảng 350-950. Nghe có vẻ là hệ thống đánh giá tín dụng cho hệ thống thương mại điện tử, nhưng thực ra ảnh hưởng tới tín dụng cá nhân, thuê xe, đặt phòng, visa, thậm chí là tìm việc.
Điều này đồng thời liên quan đến nguyên tắc "trách nhiệm" (accountability) - khi xảy ra vấn đề, có thể tìm ai chịu trách nhiệm. Trong lĩnh vực y tế, dù quá trình chẩn đoán sử dụng bao nhiêu công cụ AI hỗ trợ, cuối cùng vẫn phải dựa vào bác sĩ thực làm phán xét chuyên môn cuối cùng. Điều này không chỉ là tôn trọng quan hệ y-bệnh, mà còn là thể hiện trách nhiệm tránh cho bệnh nhân không nơi nào để cầu cứu.
Công nghệ phòng chống dịch: Cuộc sống không ẩn nấp và dấu chân số
Khi đại dịch COVID-19 bùng nổ, lòng người khắp toàn cầu hoang mang, sợ hãi trước virus lạ, công nghệ phòng chống dịch đột ngột trở thành vũ khí sắc bén của nhà nước. Nhưng cuộc tranh luận giữa y tế công cộng và quyền riêng tư nhân quyền cũng nổi lên lần nữa.
Tháng 4 năm 2020, Cơ quan Y tế Công cộng Quốc gia Na Uy tung ra một phần mềm theo dõi tiếp xúc, có thể giám sát dấu chân, cảnh báo về những người từng tiếp xúc với người nhiễm bệnh xác nhận. Nhưng hai tháng sau, phần mềm "Ứng dụng Giãn cách xã hội" phiên bản Na Uy này lại bị Cơ quan bảo vệ dữ liệu cá nhân Na Uy (NDPA) công bố cấm sử dụng!
Na Uy phát triển "Smittestopp", có khả năng theo dõi vị trí người dùng thông qua GPS và Bluetooth, cảnh báo tiếp xúc với người nhiễm bệnh. Thông tin vị trí cũng được tải lên máy chủ trung tâm lưu trữ. Tuy nhiên, Cơ quan bảo vệ dữ liệu cá nhân Na Uy (NDPA) công bố rằng ứng dụng gây hại không cần thiết đến quyền riêng tư cá nhân, chính phủ phải dừng sử dụng và xóa dữ liệu.
Tại sao Cơ quan bảo vệ dữ liệu Na Uy lại đưa ra quyết định này? Nói chung, vẫn liên quan đến bốn nguyên tắc GDPR của Liên minh Châu Âu.
Thứ nhất, NDPA cho rằng chính phủ Na Uy không thực hiện tốt trách nhiệm giao tiếp công cộng, mục đích không rõ ràng. Nhân dân không biết ứng dụng này là để điều tra dịch tễ hay tiếp tục sưu tầm dữ liệu để phân tích nghiên cứu? Hơn nữa, dữ liệu tải lên chứa các trường hợp không nhiễm bệnh xác nhận, vi phạm nguyên tắc mục đích cụ thể và sưu tầm dữ liệu tối thiểu.
Thứ hai, thậm chí vì phòng chống dịch, chính phủ cũng phải áp dụng những biện pháp gây hại ít hơn (ví dụ: chỉ xác nhận thông tin khoảng cách từ Bluetooth), chứ không phải trực tiếp nắm giữ quỹ đạo vị trí cá nhân thông qua GPS, điều này có thể gây nguy hiểm của giám sát toàn diện quỹ đạo cá nhân của nhà nước.
Cuối cùng NDPA cho rằng, sưu tầm dữ liệu dấu chân ban đầu là vì phòng chống dịch tức thời, nhưng khi dữ liệu được chuyển để tái sử dụng cho phân tích nghiên cứu tiếp theo, chính phủ phải chủ động giải thích tại sao dữ liệu có thể được tái sử dụng lần thứ hai? Lại sẽ khử nhận dạng như thế nào để đảm bảo an toàn dữ liệu cá nhân?
Nói cách khác, khi đối mặt với thách thức cao của đại dịch, cơ quan bảo vệ dữ liệu cá nhân Na Uy vẫn cho rằng nếu không có tính cần thiết đủ, không nên dễ dàng mở hộp Pandora. Sử dụng phần mềm theo dõi tiếp xúc "Smittestopp" của quốc gia có vẻ như vi phạm nguyên tắc tỷ lệ.
"Kiểm soát dịch hiệu quả không hề có nghĩa là nhất thiết phải nhượng bộ về quyền riêng tư và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Ngược lại, khi những người quyết sách dưới danh nghĩa phòng chống dịch tiến hành giám sát công nghệ, sự ra đời của một quốc gia giám sát số sẽ là những gì được thỏa hiệp - sự tin tưởng công cộng và lợi ích chung mà xã hội công dân trưởng thành dựa vào để duy trì," Hà Chi Hành phân tích thêm.
"Mối đe dọa mà giám sát số mang lại không chỉ nằm ở mặt bề ngoài xâm phạm quyền riêng tư cá nhân mà thôi. Cuộc khủng hoảng sâu sắc hơn nằm ở chỗ sau khi nắm giữ 'dấu chân số' (digital footprint), việc miêu tả và phân tích về người được giám sát cụ thể có thể vượt xa tưởng tượng. Khi người giám sát thông qua sưu tầm thông tin dài hạn, đa chiều đối với cá nhân có thể 'mô tả chi tiết và vẽ lại hồ sơ' (profiling) vượt xa trí tượng của bất kỳ ai - quỹ đạo di chuyển, thói quen sinh hoạt, sở thích hứng thú, mạng lưới quan hệ, xu hướng chính trị của mỗi người có thể toàn bộ bị nắm bắt!"
Thời đại AI cần quy định mới và cơ quan quản lý
Dù là phát triển thuốc hay kiểm soát dịch bệnh, giám sát số đã trở thành thách thức mới của xã hội hiện đại. Tham khảo các cuộc tranh luận phòng chống dịch công nghệ ở các quốc gia, quy chuẩn GDPR của Liên minh Châu Âu, Hà Chi Hành cho rằng, ngoài bộ quy chuẩn bảo vệ dữ liệu cá nhân thích ứng với thời đại AI, thực tế Liên minh Châu Âu cũng có những điểm đáng học hỏi.
Chẳng hạn, đánh giá hệ mạch về rủi ro quyền riêng tư, đưa quyền riêng tư vào sớm từ giai đoạn thiết kế sản phẩm hoặc dịch vụ (privacy by design). "Robot chăm sóc trong tương lai có thể bước vào mỗi gia đình, chúng ta lại thường bỏ qua việc robot 24 giờ đều đang sưu tầm dữ liệu cá nhân. Bảo vệ quyền riêng tư phải được đưa vào xem xét từ giai đoạn thiết kế ban đầu."
Ngoài ra, điều quan trọng nhất là: thiết lập cơ quan giám sát dữ liệu cá nhân độc lập, tức cái gọi là Cán bộ bảo vệ dữ liệu (data protection officer, DPO), chuyên trách giám sát xem các bộ phận công khai và tư nhân có tuân thủ quy định hay không. Nói thẳng ra, đó là "Cảnh sát dữ liệu cá nhân". Hà Chi Hành so sánh, "nếu nhà bị mất cắp, chúng ta sẽ báo cơ quan cảnh sát, nhưng hiện trạng là 'không biết khi dữ liệu cá nhân bị xâm phạm có thể tìm ai'. Dữ liệu tài chính thuế do Bộ Tài chính quản lý, dữ liệu sức khỏe do Bộ Phúc lợi quản lý, nếu không xác định rõ thì trở thành vùng không ai quản lý."
Nhìn tổng quát tình trạng hiện tại ở Đài Loan, bà chỉ ra vấn đề bằng một câu: "Chúng ta không phải không có quy định, chỉ là các quy định hiện tại không hoàn thiện, và đã không còn thích hợp."
Trước đây, nhiều người lo ngại "bảo vệ dữ liệu cá nhân" và "đổi mới công nghệ" là mâu thuẫn khó giải, nhưng Hà Chi Hành nhấn mạnh quy chuẩn pháp lệnh không phải là bóng đen. Đường được mở tốt, tín hiệu giao thông và chỉ dẫn hoàn thiện, xe mới có thể chạy nhanh hơn. "GDPR rất nghiêm ngặt, nhưng nó không cản trở nghiên cứu khoa học, vẫn cho phép không gian cho ngoại lệ khoa học."
"Dữ liệu là dầu mỏ mới" (data is the new oil), Đài Loan sở hữu một trong những cơ sở dữ liệu sức khỏe hoàn chỉnh nhất thế giới. Chỉ có quy định pháp lệnh hoàn thiện và rõ ràng mới có thể giảm bớt lo lắng, tìm được điểm cân bằng giữa tái sử dụng dữ liệu lần thứ hai và đổi mới công nghệ, cũng xây dựng sự tin tưởng xã hội đối với tái sử dụng dữ liệu lần thứ hai.
Nỗi sợ dịch bệnh khiến nhân dân khẩn thiết kỳ vọng chính phủ hành động nhanh chóng quyết liệt, nhưng Hà Chi Hành nhấn mạnh, đại dịch cuối cùng cũng sẽ dịu đi. Cần suy tư lại các nguyên tắc của xã hội pháp trị: dự phòng pháp luật, ủy quyền rõ ràng, thủ tục công bằng và tổn hại tối thiểu, là vấn đề quan trọng của xã hội dân chủ trong thời đại hậu đại dịch.
Viện Hàn lâm Sinica tập hợp gần 20 học giả văn hóa xã hội tham gia dự án khoa học, tung ra trang web số, từ các góc độ khác nhau như lịch sử, kinh tế, pháp luật và chính sách, xã hội học, văn học, nêu ra thảo luận sâu sắc về tác động xã hội dưới đại dịch. Tháng 7 sẽ xuất bản cuốn sách bìa cứng. Trên trang web này, Hà Chi Hành cũng thông qua đối thoại liên ngành về nhân quyền, pháp luật và lịch sử, suy tư về cân bằng ranh giới dưới phòng chống dịch công nghệ.
Tài liệu tham khảo
Hà Chi Hành, "Nhân quyền? Pháp trị? Cân bằng như thế nào dưới phòng chống dịch? Suy tư triết học, lịch sử và phòng chống dịch công nghệ", trang web Suy tư văn hóa xã hội COVID-19
Hà Chi Hành*, Liêu Trinh Tiết, "Tranh cãi dữ liệu cá nhân AI trong kinh nghiệm Anh và Liên minh Châu Âu — với vụ Google DeepMind làm ví dụ", Tạp chí Pháp luật Nguyệt san, kỳ 302, 2020
Chih-hsing Ho, "Challenges of the EU General Data Protection Regulation for Biobanking and Scientific Research", Journal of Law, Information and Science, 2018
Lâu Nhất Linh, Hà Chi Hành*, "Sơ bộ khảo sát tranh cãi pháp luật bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thời đại điện toán đám mây và phân tích so sánh pháp luật: với dữ liệu bảo hiểm y tế làm ví dụ", Công trình Pháp luật Đại học Đài Loan, tập 46, kỳ 2, 2017
Trang web cá nhân Hà Chi Hành
Tác phẩm này được Viện Nghiên cứu và Sáng tạo sản xuất, phát hành theo Giấy phép Sáng tạo Công cộng Ghi công Tác giả – Phi Thương mại – Cấm Chuyển đổi 4.0 Quốc tế.



